Langven.com Forum

Giúp đỡ - Lục lọi - Dân l ng - Lịch
Full Version: Trên giá sách
Quán nước đầu làng Ven > Sáng Tác - Thảo Luận - Phổ biến kiến thức > Văn Học & Ngôn Ngữ
Pages: 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25
grass
Yasunari của bác Phó chắc là Yasunari Kawabata. Ông này thường được gọi là Kawabata (họ) chứ không gọi bằng tên.

Cố đô không phải là quyển nổi tiếng nhất của Kawabata. Các quyển hay được nhắc tới, tiêu biểu cho văn phong Kawabata là Xứ tuyết, Ngàn cánh hạc, Vũ nữ Itzu hay Tiếng rền của núi.

Văn Kawabata có cái đẹp buồn và đơn độc của một thế giới đang mất và sắp mất, vô phương níu kéo và chính cái vô phương đó là một phần cái đẹp.

Nói chung văn học Nhật mà em có đọc đều có cái gì đấy rất chông chênh, đơn độc, ngập ngừng và dễ vỡ. Luôn luôn là một thế giới tự cô lập một cách nào đó. Weird weird hi hi.

Tanizaki thì em chưa đọc nhưng cái cấu trúc xẩm sờ voi thì rất rõ trong truyện ngắn Trong rừng trúc của Akutagawa (hình như được dựng cả thành phim). Akutagawa là nhà văn Nhật favorite của em, có thể vì tính Nhật của ông ý đã bị Tây hoá kha khá hi hi. Còn những ông khác vẫn cứ có cái gì đấy.... too weird. Phim Anh hùng của Trương Nghệ Mưu, khi xem cũng có kiểu những gương mặt khác nhau của sự thật rất là Trong rừng trúc, mặc dù không đẩy được đến cái tương đối tận cùng như Trong rừng trúc.

Mishima em có thử đọc Người thủy thủ bị biển chối từ nhưng không đọc được hết.
Phó Thường Nhân
Cám ơn Grass.
đúng là tôi nói tới ông Yasunari Kawabata.
Mr. Smith
Chùa vàng hình như là tác phẩm nổi tiếng nhất của Mishima, cùng với bộ ba tiểu thuyết gì nữa viết về nước Nhật từ đầu thế kỷ 20 tới chiến tranh thế giới. Bác này được mệnh danh là người Samurai cuối cùng, với cái chết rất kỳ lạ. Có bài này về Mishima trên VNN viết khá hay: http://vietnamnet.vn/vanhoa/chuyende/2005/11/516624/

Còn một bác được Nobel nữa tên là Kenzaburo Oe nữa, bác này tiêu biểu cho trường phái hiện đại (khác với trường phái hoài cổ của Mishima, Kawabata), viết về nước Nhật hậu chiến, nhưng hình như văn chương bế tắc với depression lắm.

Với lại văn học hiện đại Nhật hiện nổi nhất là bác Haruki Murakami, rất được ưa chuộng ở phương Tây.
Dựa vào truyện Trong rừng trúc của Akutagawa (hic, tên mấy ông Nhật này khó nhớ quá, toàn phải check lại) và truyện Rashomon cũng của ông này thì được dựng thành phim là phim Rashomon, một phim rất nổi tiếng của đạo diễn Kurosawa.
Không hiểu sao mấy ông nhà văn Nhật nổi tiếng đều chọn cách chết là tự sát hết nhỉ, từ Akutagawa, tới Kawabata, Mishima.
Em cũng đang định đọc một ít văn học Nhật, có lẽ sẽ là Mishima, Murakami và Kenzabuzo Oe. Nhưng đọc sách của Nhật có lẽ đọc bằng tiếng Việt (dịch từ tiếng Nhật) sẽ hay hơn vì cùng là phương Đông? Em đọc Akutagawa và Kawabata bằng tiếng Việt, nói chung đều thấy thích.
Minh Tí
QUOTE(ThụyVũ @ Jan 12 2006, 10:43 AM)
Chẳng bù cho tớ, tớ chết mê Remarque. Grass thì thích Bò ngang vì cái kiểu tư duy liên tục đan xen quá khứ, hiện tại và không ngắt quãng, mới đầu thấy khó đọc, xong càng về sau càng thú.
Sueskind tớ cũng mới đọc có Mùi hương (Daz Parfum theo tiếng Đức thì phải) và Chỉ tại con chim bồ câu.
Nói chung, đọc các tác phẩm của các nhà văn Đức tớ thấy rất hay có tính triết lý và suy luận khá rõ ràng trong đó.
*



Cám ơn Thụy đã gợi ý về Remarque. Từ qua đến nay, nhỡ đọc Remarque say không rút ra được. Tiếc là dactrung chỉ có 2 tác phẩm của Remarque, Bản du ca cuối cùng và Phía Tây không có gì lạ.

Có một đoạn rất xúc động, nó chứa đựng suy nghĩ sâu xa, của tác giả, của mình. Than ôi, cái cảm giác đó đã phải trải qua và sẽ còn trải qua nhiều lần nữa. Phải chăng có một cái gì đó chung, một sợi dây vô hình, một giá trị universal. Hai hoàn cảnh, mà cũng có thể nhiều hoàn cảnh, nhưng lại có một cảm giác chung, như là một sự đồng cảm. Điểm chung đó là gì ? Phải chăng đó là niềm suy tư sâu kín, là tâm sự của những người bị "bật rễ".

Tôi cố trở lại thời ấy. Nó vẫn còn trong căn phòng, tôi cảm thấy nó ngay. Những bức tường vẫn còn giữ gìn nó. Hai tay tôi đặt trên trường kỷ. Bây giờ tôi ngồi thật đàng hoàng, co cả hai chân lên, tôi ngồi thoải mái như thế trong một góc, giữa những tay vịn của chiếc trường kỷ. Qua chiếc cửa sổ nhỏ mở toang, hiện lên hình ảnh quen thuộc của dãy phố và chiếc tháp chuông vươn lên ở đầu kia. Trên bàn có vài bông hoa. Bút mực, bút chì vài cái vỏ sò chặn giấy, lọ mực, ở đây chẳng có gì thay đổi cả. Quang cảnh sẽ vẫn thế nếu tôi được may mắn, khi chiến tranh kết liễu, và sẽ được trơ về mãi mãi.
Tôi sẽ cứ ngồi cái kiểu thế này, ngắm gian phòng của tôi và chờ đợi . . .
Tôi cảm thấy bứt rứt, nhưng tôi không muốn bứt rứt như vậy, vả lại cũng không nên bứt rứt làm gì. Tôi muốn như trước kia, khi ngồi trước sách vở, vẫn cảm thấy sự hấp dẫn thầm lặng cái tình quyến luyến mạnh mẽ và khó tả. Tôi muốn cái niềm khát vọng trước kia, từ những gáy sách nhiều màu kia lại dâng lên, lại quyện lấy tôi, tôi muốn nó làm chảy tan cái khối chì nặng trĩu trong tôi để đánh thức dậy trong con người lòng nôn nóng về tương lai, cái niềm vui mọc cánh mà thế giới tư tưởng đem đến cho tôi. Tôi muốn nó đem lại cho tôi cái nhiệt tình đã mất đi của thời niên thiếu.
Tôi ngồi đấy và chờ đợi. Tôi nhớ ra là phải đến thăm mẹ Kemơrich và cũng có thể đến thăm Mitenxtat nữa. Chắc nó ở trại lính. Tôi nhìn qua cửa sổ . Sau hình ảnh dãy phố đầy ánh nắng, nổi lên ngọn đồi mờ nhạt, rồi cảnh đó biến thành một ngày thu trong sáng, tôi đang ngồi trước bếp lửa cùng với Cát và An be, ăn khoai lùi.
Nhưng tôi không muốn nghĩ đến chuyện ấy; tôi gạt cái kỷ niệm ấy ra.
Điều tôi thèm muốn là căn phòng này phải nói lên với tôi, phải quấn quít lấy tôi phải giữ lấy tôi. Tôi muốn được rung cảm mối tình ruột thịt đối với chốn này. Tôi muốn nghe giọng nói của nó, để khi trở lại tiền tuyến, tôi biết được điều này: chiến tranh sẽ bị xóa nhòa và biến mất khi ta trở về nhà; chiến tranh sẽ chấm dứt; nó không ray rứt ta nữa, nó chỉ có quyền lực đối với ta ở cái vỏ bên ngoài thôi.
Những gáy sách vẫn xếp cạnh nhau, tôi vẫn nhận ra chúng, tôi vẫn còn nhớ cách thức tôi xếp đặt chúng. Tôi đưa mắt van nài chúng: "Hãy nói với ta đi, hãy chào đón ta đi, hãy giữ lấy ta đi, ôi cuộc đời xưa cũ, cuộc đời vô tư và đẹp đẽ, hãy giữ lấy ta..." Tôi chờ đợi, tôi chờ đợi...
Bao nhiêu hình ảnh lướt qua trước mặt tôi, chúng không có chiều sâu, chỉ là những bóng mờ kỷ niệm. Chẳng có gì, chẳng có gì cả.
Tôi càng lo lắng.
Đột nhiên một cảm giác ghê gớm trỗi dậy trong tôi. Ở đây tôi là một kẻ xa lạ. Tôi không thể tìm lại ở đây chỗ ngồi quen thuộc nữa. Chẳng khác gì người ta ruồng bỏ tôi. Tha hồ cho tôi kêu nài, van vỉ, chẳng có gì rung cảm cả. Tôi ngồi đấy, lạnh lùng và buồn bã như một kẻ bị kết án, và quá khứ quay lưng lại với tôi . Đồng thời, tôi sợ không dám gợi nhiều đến quá khứ, vì tôi không biết cái gì sẽ đến. Tôi là người lính, tôi không thể rời bỏ cương vị ấy được.
Tôi uể oải đứng dậy, và nhìn qua cửa sổ. Rồi tôi cầm lấy một quyển sách, mở ra, cố đọc một vài đoạn, nhưng rồi lại vất xuống, và cầm một quyển khác. Có những đoạn gạch dưới; tôi tìm, tôi lật vài trang, rồi tôi lại lấy những quyển khác. Cạnh tôi đã có một đống sách. Những quyển khác tiếp tục, bồi thêm vào cái đằng ấy một cách vội vã hơn; rồi cả những tờ giấy, những quyển vở, những bức thư.
Tôi đứng lặng người trước cái đống ấy, như trước một tòa án. Không chút can đảm.
Những tiếng nói, những tiếng nói, những tiếng nói . . . Chúng không đến với tôi.
Tôi thong thả xếp sách vào chỗ cũ.
Thế là hết.
Phó Thường Nhân
@Smith
Tôi cũng không biết quyển "Chùa Vàng" có phải là tác phẩm nổi tiếng nhất của Mishima không, vì lúc mua nó chỉ vì thấy cái tên nó lạ. Tôi biết cái thắng cảnh ấy cũng nổi tiếng như chùa Một Cột ở Hà nội , trong kiến trúc Nhật bản, nhưng tò mò không hiểu ông ấy định viết cái gì, nên mua.
Hoá ra là chuyện dựa trên một sự kiện thời sự có thật, đó là việc có một chú tiểu đã đốt ngôi chùa này vào những năm 50. Một ngôi tháp (ví nó là cái tháp) đã tồn tại 500 năm, qua bao sự kiện lịch sử, nhưng lại bị thiêu huỷ bởi một sự việc rất "banale" . Mishima đã dựa vào đấy viết một tiểu thuyết "giải thích" sự việc điên rồ ấy.
Sự kiện thực sự chỉ có khoảng 30% truyện, nhưng qua đó ông ta phân tích, mô tả, triết lý về cái đẹp, về tâm lý. Đọc văn của ông ấy, nhiều lúc có cảm tưởng như đọc Nguyễn Tuân, vì cách viết, cách tả cảnh tỉ mỉ, trau chuốt.
Chùa Vàng có lẽ thuộc loại tiểu thuyết triết học, kiểu như Buồn nôn của Sartres.

hạo nhiên
Viết vào lúc khuya.

Chúng ta sống trong 1 thế giới vô thường. Mọi sự đều thay đổi và ngẫu nhiên-ngẫu nhiên tới dửng dưng vô tình. Nhưng phần lớn chúng ta không nhận ra được sự thực đó. Và vì vậy, xét một cách nào đó-một đại dịch trên toàn thế giới cũng có một khía cạnh tích cực là làm cho chúng ta nhận rõ hơn sự phù du của kiếp sống làm người. Khi mà dịch bệnh tai quái luôn rình rập và vặt những sinh mệnh-hệt như vặt cỏ-chẳng phân biệt tốt xấu, sang hèn; chẳng có lý gì cả. Thần chết chẳng thèm kiêng dè gì mà không thu gom cả một số đông con người vốn nhỏ bé yếu ớt. Cuộc sống hiện đại què quặt làm chúng tai ít đi những kinh nghiệm sống động trực tiếp. Chúng ta không biết và không muốn tin là lại có thể có rất nhiều người chết một lúc, dửng dưng vô nghĩa lý. Hãy xem, đã từng như thế rồi, nhưng con người không ghi nhớ và học hỏi được gì nhiều từ lịch sử cả. Đây không phải là vấn đề nhận thức đơn giản mà nó có một chiều sâu như thế này: đó là chúng ta rút được những kinh nghiệm chỉ từ những vấp váp-mọi lý thuyết, lời khuyên, sự giáo dục, cảnh tỉnh đều chẳng thể là yếu tố quyết định. Một vài cá nhân nhạy cảm, tinh tế hơn sẽ có cơ may nắm được phần mong manh dự kiến hơn số còn lại.
Nhưng không phải chuyện đại dịch là một vấn đề - nó là một sự kiện, một sự kiện trọng đại làm khơi dậy những vấn đề muôn thuở của kiếp người, một cách tha thiết, nóng cháy nhất. Những vấn đề nhân sinh thường man mác, lẩn khuất trong tâm trí ta. Đôi khi tụ hội thành nỗi buồn vơ vẩn lúc ta bơ vơ, nhàn rỗi. Ta chưa bao giờ có đủ khả năng để đối diện với nó. Thậm chí ta chẳng còn biết là phải làm gì nữa. Tâm trí con người tự nhiên trôi chảy, hỗn độn, chớp nhoáng, vụt chạc như con khỉ chuyền cành-từ lúc nào ta lớn lên đã như vậy rồi. Trách sao ta mong tâm ta tĩnh lặng mà chẳng bao giờ ta thực sự làm lặng yên dòng tâm thức kia..
hạo nhiên
Bây giờ thì có vẻ đã đôi chút thay đổi. Chưa bao giờ ta cảm thấy được sống là đáng quý như lúc này. Nhưng được sống mới khó khăn làm sao! Mọi giá trị đều đảo lộn hết thảy. Cuộc sống quá ngắn ngủi, quá xao động để cho ta quyết định tiêu pha thế nào? Mà thực ra, giờ mới là lần đầu ta nghĩ tới chuyện (mới biết tới chuyện) ta có trách nhiệm thế nào đây với sự tồn tại của chính ta? Câu hỏi không mới, nhưng nó không còn ơ hờ, điềm tĩnh trong xa lông phòng khách nữa rồi. Nó đã tha thiết, day dứt và thúc bách như đang trôi giữa dòng lũ xiết. Hơn bao giờ hết, hình ảnh con chó đứng trước chảo dầu sôi mới thật xác đáng: bỏ đi không đành, liếm thì bỏng lưỡi. Đúng là tiến lên không được, lùi lại không xong.
Bâng khuâng, ta mới lần mò lại coi xem, trên con đường miên viễn này, ta đang có gì? Hành trang của ta có gì là đáng giá? Mang theo cái gì đây? Đường dài vô tận, sức người có hạn-ta phải chọn một con đường, mang tối thiểu hành trang thôi. Mà, ta đã bao giờ sẵn sàng chưa?
Ngẫu nhiên ta sẽ lật giở từng món một. Xem trong đó bao nhiêu là dan díu, chằng chịt những liên hệ qua lại. Món nào ta cũng trân trọng cả. Cũng rộng lượng, cũng tha thiết. Và cởi mở ngó coi. Để chung cuộc, ta mới biết được, đâu là cái ta cần.
Chúng ta đến với thế giới này bằng kinh nghiệm. Chính kinh nghiệm của ta dẫn ta tới với ngôn ngữ chung của mọi người. Mưa-cơn mưa ngày xưa của anh làm sao giống cơn mưa ngày xưa của em? Và dưới cơn mưa này-anh và em-chúng ta có chia sẻ được điều gì thực sự liên thông không?
Vậy đấy, ngôn ngữ luôn luôn là phiến diện. Nói luôn là nói với ai đó. Đọc luôn luôn là đặt mình vào một trạng huống kỳ lạ mà vận dụng mà liên tưởng tới mọi ngõ ngách tâm linh mình xem các kinh nghiệm có đồng vọng không? Và hạnh phúc chân chính là khi thực sự ta biết, ta với người cùng chia sẻ một tương giao sâu xa, bền chặt.
hạo nhiên

* Con người, cá tính Saint – Exupéry và lựa chọn của Bùi Giáng.
Có một đặc điểm quan trọng của Bùi Giáng mà hình như chưa ai đề cập đúng mức cần thiết-mà đây lại là điểm mấu chốt cho ta hiểu ông-đó là sự nhấn mạnh, lời nhắc nhở thường xuyên rất tha thiết rằng: nói là nói_với_ai. Đọc phần hiển ngôn phải đọc được cả phần bất suy tư nữa. Phải tương giao tinh thần với người nói, người viết-thì còn xá gì ngôn lời nữa…Khi cái Tôi bệ vệ, trưởng giả, thiển cận tan biến đi cho một tấm lòng hồ hởi tha thiết tìm tòi học hỏi thì chân lý mới hiển lộ-hiển lộ chỉ riêng với kẻ ấy mà thôi.
Những tác giả ông (BG) chọn dịch đều là đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu cả. Saint Exupery, Albert Camus, Heidegger, Nietzche…đều có một điểm chung là tấm lòng giản dị, trong sáng. Lời nói đơn sơ mà âm vang. Tinh thần họ sâu xa mà huyền nhiệm. Biểu hiện họ thì tha thiết với cuộc đời này, sự tồn tại này-mặc dầu lời nói đôi khi tàn ngược oái oăm.
Đáng sợ nhất là ngộ nhận. Những kẻ vin vào ngôn từ thường làm rơi rụng những ân tình sâu xa, những hàm ẩn mênh mang sau lời nói đơn sơ. Thực ra thì cũng giản dị thôi-Hãy để tấm lòng đơn sơ, hãy để xúc cảm chân thành và…luôn bâng khuâng về sự tồn tại của chính mình là ta sẽ có lối vào. Tức là tâm tư sẽ tương giao. Cuộc sống sẽ tươi mát hơn. Bước chân sẽ vững vàng hơn. Nụ cười sẽ dịu lại mà dư vang…
Từ thời Phục Hưng ở Châu Âu vào thế kỷ 15 trở đi thế giới Phương tây đã có những biến chuyển dữ dội. (Ta phải luôn nhớ rằng, có hai mạch ngầm chính của tư tưởng nhân loại là Đông và Tây, đã rất xa lạ với nhau và cùng hướng tới những mục tiêu nhân sinh như nhau-để tới nay đang có những gặp gỡ nhất định). Phải biết rằng, người Tây phương khởi đầu nền văn minh của mình với Hy lạp ra sao? Những đêm dài tăm tối Trung cổ ra sao..Phải biết ít nhất hậu cảnh ấy mới cảm nhận sâu xa được bối cảnh xã hội Tây Âu những năm đầu thế kỷ 20, con người ta đang ý thức thế nào về thân phận mình. Ít ra ta phải biết những triết gia Hy lạp cổ đại, biết Socrate, Platon, Aristote..biết thời đại khai sáng từ Phục Hưng tới đầu TK19 với những tư tưởng hăm hở của một thời đại con người vừa mới cởi bỏ ách tù túng của Nhà thờ La mã, nhận thức và lý giải thế giới. Khi mà bỗng nhiên chúng ta tin tưởng tuyệt đối rằng: thế giới này giải thích được bằng các đinh luật, rằng con người cần chinh phục, chế ngự thiên nhiên…Lần đầu tiên con người là trung tâm. Con người là toàn năng…Lại có những Newton, Marx.. đưa hoạt động tinh thần con người lên tầm hùng tráng nhất…Con người thế kỷ 18, 19 có cái hạnh phúc ảo ảnh này là họ hiểu biết mọi sự, hay ít ra họ tin họ sẽ hiểu hết mọi sự!
Nhưng cuối thế kỷ 19 trở đi, những phát kiến mới, những tiến bộ mới, những quan niệm mới và nhất là những vấp váp, khủng hoảng đã đưa đời sống con người sang nẻo khác. Loài người rơi vào mâu thuẫn nan giải:
- Một đàng, khoa học kỹ thuật và nền công nghiệp phát triển như vũ bão. Trí tuệ con người được cụ thể thành các công cụ vật chất, làm biến đổi mọi thứ trên mặt đất, kể cả chính con người cũng bị rơi vào vùng xoáy ấy.
- Một đàng, con người ngày càng thất vọng về khả năng hiểu biết chính mình, thân phận mình. Với chính thân phận mình thì con người không có được sự tự tin hống hách của nó như trước thiên nhiên.
Kết quả là loài người như đang cưỡi trên một con ngựa tốt mà chẳng biết phi về đâu, để mặc nó lôi đi vậy thôi.. Cái mặt KHKT và CN đã làm biến dạng xã hội, chia cắt xã hội và xô đẩy các cuộc chiến tranh. Tất cả đổ vỡ, đau thương, bế tắc càng làm lên một Âu châu hỗn loạn. Nhưng mọi thứ mới chớm nở thôi và chỉ đôi ba tâm hồn cảm nhận thấy nó. Huống chi người ta vẫn sẵn còn đó những tình yêu, những cảm xúc trong sáng. Cái thời đại ấy, con người chán đời mà vẫn yêu đời. Cái sự vụ ấy rất nan giải! Châu Âu những năm đầu thế kỷ 20 đã bộn bề ba bốn phía. Vẫn còn là châu Âu thực dân. Các thuộc địa đang trỗi mình dậy sau những cưỡng ép từ một nền văn minh thực dân. Nhưng một sự tươi trẻ, một cơ hội tái tạo mới đang hứa hẹn. Tựa như một người qua bao vấp váp nay có cơ hội làm lại mọi sự.
hạo nhiên
S.E chọn nghề phi công-đưa thư từ châu Âu đi khắp nơi, chủ yếu là những lục địa mới, những miền xa xăm. Đáng kể nhất là châu Phi của những hoang mạc. Chỉ riêng việc máy bay chở thư thì chỉ đơn độc có đội bay mà không có hành khách là đã mang lại hương vị quyến rũ đặc biệt của một chuyến lữ hành lãng mạn rồi. Về những vấn đề này, ông đã nói tới nhiều trong “Cõi người ta” và các tác phẩm tương tự. Sự đối lập của cái xác máy móc nặng nề với sự nhẹ nhàng phiêu lãng của cánh bay. Đã hàng nghìn năm, chúng ta đi trên những con đường nhất định. Cách chúng ta đi, cách chúng ta nhìn thế giới đã ăn sâu vào tư tưởng và ngôn ngữ ta như một điều hiển nhiên. Nay một chân trời mới đang mở ra: cách nhìn mới sẽ gọi biết bao điều suy tư mới. Sẽ phải có một chương riêng để phân tích về mối liên hệ giữa tốc độ và suy tư (như Milan Kundera đã làm). Nhưng nói tóm lại, đó, khi ở trên máy bay, một mình, nhìn xuống-con người có cơ hội nhìn mọi sự theo cách khác hẳn. Và có lẽ, bao quát hơn, thoáng đạt hơn.
Kỹ thuật máy bay thời đó còn sơ khai, người phi công vẫn phải dựa vào mắt mình, tay mình mà điều khiển như khi còn trên mặt đất. Tầm bay thấp, vẫn luồn lách trong các ngọn núi, vẫn những cánh đồng, vẫn những trận mưa, cơn lốc…Nghĩa là anh vẫn gắn bó lắm (theo một cách khác) với mặt đất. Những đường bay còn mới mẻ, đầy rẫy bất ngờ, nguy hiểm. Tất cả tạo nên một thế giới vừa rộng lớn, vừa quyến rũ ta. Thử hỏi điều đó đã mang lại trong tâm hồn người phi công những gì?
Phải bay đêm mới biết hết những ý vị sâu xa huyền diệu. Ta-một mình băng cánh giữa thinh không. Bên dưới là làng mạc, là thảo nguyên, là khu rừng, đầm lầy…Ai đó còn thức, ai ngủ? Bao nỗi đời đang diễn ra. Họ chỉ là những đốm sáng trên một nền đen-hệt như những tinh cầu cô đơn. Quả thực-con người vốn rất cô đơn. Họ sống quẩn quanh quá, tầm nhìn họ eo hẹp quá nên chi những mối tương giao là hoạ hiếm. Và nữa, chính người phi công đang bay giữa một trời sao thực sự. Vậy là bốn phía đều là những ngôi sao-chính anh cũng là một ngôi sao. Ai đâu, hãy thử đem những mối lo lắng bận tâm về công việc ngày thường lên trên cánh bay này một lần xem nó còn bao nhiêu phân lượng? Và thật bất hạnh cho ai kia không sao hiểu được điều này!
Nhưng điều này khó chia sẻ quá. Nó huyền diệu và đòi hỏi người ta phải được trải qua kia. Vậy nên người phi công cũng thật đơn độc làm sao giữa cuộc đời này! Một tấm lòng rộng mở hồn nhiên, một sự hiểu biết và do hiểu biết mà thông cảm, một trí tưởng tượng phong phú nuôi dưỡng những cảm xúc đẹp đẽ-Một tâm hồn như thế sẽ luôn nhìn cuộc sống, nhìn vũ trụ như là tất cả trong một ngày-hân hoan vui sướng-không lo âu, không toan tính và rất chi là hào phóng chia sẻ. Xuống đất, ta chỉ may chăng chỉ còn tìm thấy chút gì đó trong những tấm lòng con trẻ. Con trẻ chứ không phải trẻ con!
Nhưng những tha thiết này sao mà cần được chia sẻ đến vậy! San sẻ cho đầy thêm chứ chẳng hề vơi đi. Nhưng mặt đất châu Âu đang tràn đầy những huỷ hoại, nọc độc chiến tranh thế giới đang đến, nền KT tư bản đang ở thời kỳ thô bạo nhất, con người đang lãng quên mọi sự. S.E đã ở tuổi 40 rồi, đã sống sang mé bên kia của cuộc đời, có sự mỏi mệt, có thất vọng, có tin yêu và có cả cô độc. Danh vọng hão huyền cũng đủ rồi. Và còn nhiều nhiều nữa những tâm sự u uẩn. Sự cô độc của một tâm hồn già dặn. Và ông đã viết “Hoàng tử bé”.
hạo nhiên
Câu chuyện là một ẩn dụ thơ mộng kêu gọi sự đồng cảm chứ không rao giảng. Nhẹ nhàng, day dứt và khơi gợi. Mọi phân tích chi li sẽ làm tan biến hết những ân tình trong đó. Nên chăng chỉ là hoạ lại đôi lời lan man về những đồng vọng xa xăm…

* Sa mạc và viễn tượng.

-Sa mạc là một cái gì đó quá đỗi xa cách với người châu Âu kia. Xét cho cùng, cả Tây Âu chỉ là một mom nhỏ chật hẹp của Đại lục. Có ở trên cánh bay mới nhận rõ điều ấy. Sa mạc làm con người ý thức thật rõ ràng sự nhỏ bé, hữu hạn, mong manh của mình. Trong sa mạc, thường khi anh đối diện với mênh mông, cũng chính là lúc anh nhận ra chính mình. Sự khắc nghiệt của sa mạc, những hiểm nguy rình rập, sự sinh tồn của mình đây, nhỏ bé, phập phồng, phiêu hốt, hơn bao giờ được mình ý thức đến vậy. Không còn là lối ý thức ơ hờ làm dáng mà là ý thức toàn thể, đòi hỏi những hành động thích đáng. Một cơn khát kịch liệt, một lần lạc lối, là những nét vẽ lên chính sự tồn tại của ta.
- Người sống ở sa mạc sẽ phải học giản đơn: mọi thứ đều tối thiểu. Không cần màu mè-nước sạch là quý nhất. Hành trang tối thiểu và thiết thân. Luôn luôn hành động xác đáng, không làm những việc thừa thãi. Luôn luôn đứng trước bất trắc, nghi ngẫu khiến người ta luôn quả quyết. Giá trị cuộc sống ở sự vĩnh hằng trong khoảnh khắc và trong hành động. Cái chết luôn cụ thể và hiển hiện. Con người có được cái khoái cảm của sự run sợ pha trộn trong sự rung động toàn thân trong sự hiện hữu của mình.
- Sa mạc có những ảo ảnh. Những ảo ảnh làm người ta chết phi lý. Chỉ phút chót mới nhận ra được. Người trong sa mạc phải tự vấn mình để tự chọn lấy một quyết định. Quyết định ấy là sống hoặc là chết.
- Chính tất cả những điều ấy tạo lên sự quyến rũ của sa mạc. “Hy vọng” là tất cả những gì người ta có được ở đây. Nó làm con người ta hướng tới sự sống tha thiết hơn. Sau mỗi đụn cát vô tận luôn ẩn chứa những giếng nước ngọt. Không ở nơi đâu, con người đi giữa hiểm nguy lại xen lẫn nhiều hy vọng đến như vậy.
- Và, ở sa mạc, cuối cùng, nếu phải gục ngã, anh phải học cách mỉm cười và ra đi một mình-giữa mênh mông. Trong giờ phút ấy-những điều gì sẽ quay lại với ta?
- Chính con người, với tình yêu, trí tưởng tượng đã làm sa mạc trở thành khả dĩ với sự sống. Nếu bạn ở giữa sa mạc, bạn không còn hy vọng, không còn tin vào một nguồn nước-nghĩa là bạn đã chết ngay khi còn bước đi. Con người hãy sống với một tâm thế khác-ta sẽ hưởng được nhiều hơn trong cùng một ngày của một cuộc đời. Sự đời vốn có nhiều lối để nhìn. Và niềm tin, sự tương giao là hạnh phúc của ta.

* Kiến thức, hiểu biết và trải nghiệm sống.
- Những kiến thức, lý giải xa lạ với sự sống sinh động. Khi chúng xuất hiện, sự sống đã “đi qua” rồi.
- “Chúng ta có thể đi xa được mấy đâu?”
- Chúng ta xa lạ với những điều thực mà hời hợt trong những ước lệ sáo rỗng. Cái hay của câu chuyện một mặt ở chỗ khơi gợi mọi điều man mác về cuộc sống trong một dòng chảy thơ mộng trong trẻo đa tầng…
- Có một lần, người phi công lạc đường giữa không trung, trong một đêm tăm tối, không trăng. Vẫn là những bao la kia nhưng sự vật đã thay đổi rất nhiều với anh. Chưa bao giờ con người cô đơn làm vậy. Không một chút ánh sáng le lói, không một cách nào cho ta biết là “ta đang ở đâu?” Không lẽ, ta sẽ chết giữa chơi vơi như thế này? Anh mải miết đi tìm những ngôi sao lẻ loi-với hy vọng tìm lại phương hướng. Mỗi đốm sáng nơi chân trời kia là một lần anh hy vọng. Trớ trêu thay, quả địa cầu tròn-ánh sáng ngôi sao kia rốt cuộc chỉ là ngọn đèn ai đó giữa khuya thôi-hay ngọn lửa đốt lên giữa đêm trên cánh đồng của người chăn gia súc? Linh hồn ta, ai chả đôi lần hoang mang như vậy? Ai chả từng mong có một tinh cầu dẫn đường, còn có một nơi chốn để hướng về?
- Ta có thể đọc như đọc lần đầu, ngỡ ngàng, yên ả, xuôi mình đi trong cảm xúc. Rồi ta mới lắng nghe dư âm trong lòng ta xem bao nhiêu là hội ngộ, bao nhiêu là sẻ chia. Mỗi lần sống thêm một kinh nghiệm đời ta, ta đọc thêm được chút gì đó, từ câu chuyện-hay là từ chính ta?
- Trong một lần tưởng như sẽ chết khát trong tuyệt vọng giữa sa mạc, anh vẫn còn la bàn, vẫn còn biết phương hướng-nhưng lại không biết mình đang bị rơi ở đâu, giữa hoang mạc. Người phi công nhớ lại những gì đã qua trong cuộc đời mình. Mọi thứ từ xa cách hiện qua như một cuốn phim. Những lẻ tẻ, rơi rụng. Chưa bao giờ anh thấy lòng rộng lượng như vậy với mọi điều. “Hoàng tử bé” là nỗi lòng mơ màng ấy. Một nỗi nhớ lại giữa hoang mang chơi vơi..
hạo nhiên

*Ta đã làm gì đời ta?
- Trong tâm hồn mỗi người, cũng như là một khu vườn có nhiều hoa trái vậy. Có những hạt giống. Có hạt giống lành, có hạt giống dữ. Mới đầu chúng từa tựa như nhau. Chỉ khi đã lớn rồi thì ôi thôi-việc dọn dẹp đã là một kỷ luật cho chính mình. Nếu anh lơ đãng, cả tinh cầu của anh, cả tâm hồn của anh sẽ bị những quái dạng ấy nuốt chửng. Hãy chăm sóc bông hoa của chính mình-anh sẽ được hưởng niềm vui nhỏ bé mà ấm áp vô ngần. Vì tinh cầu của anh là duy nhất. Anh đã “tuần dưỡng” con người anh. Hạnh phúc là ở nơi đâu con người đem tình yêu và sự săn sóc tới-kể cả với chính mình.
-“Tôi muốn thiên hạ phải coi trọng những hoạn nạn của tôi”. Luôn luôn là như vậy, con người ít khi biết mình là như thế nào lắm. Rớt từ trên trời xuống với một cái máy bay thì chẳng xa xôi gì so với từ một tinh cầu. Phải, hẳn là từ một lần nọ rơi máy bay xuống hoang mạc kia anh mới nhận ra tình trạng của mình, mới ý thức về tinh cấu nội tâm của anh.Sự vụ kia đã thay đổi nhãn giới của anh, khiến anh cao lên một tầng nữa, xa thêm một tầm nữa. Phải, có phải từ đó, anh đã biết, đã gặp một “Hoàng tử bé” - một nhân vị mong manh mà duy nhất không? Cái vụ rớt máy bay trong hoang mạc thì anh đã trở về rồi. Nhưng còn tinh cầu của anh, bây giờ đây, làm sao anh trở lại? Giờ đây anh đã mang đã biết tới một nỗi buồn thật da diết, thật riêng tư-Bây giờ riêng đối diện tôi, còn hai con mắt khóc người một con.
- Tôi không muốn vén lên một cách sỗ sàng nỗi mơ màng nọ. Tôi không muốn bảo là không có Hoàng tử bé đâu, chỉ có một người phi công nọ đang bồi hồi giữa tâm hồn. Không muốn bạn cũng quá đột ngột nhận ra tình huống xa xăm của tinh cầu mình. Vì như thế là ép uổng, là không đúng đâu. Một ngày nào gặp Hoàng tử bé chứ không phải do ai chỉ cho, ngày ấy bạn sẽ vui lắm, dù rằng cũng có một nỗi buồn dìu dịu.

*Về một tình yêu đúng.
- Tại sao lại đi lắng nghe một bông hoa? Đáng lẽ chỉ nên nhìn và hít ngửi mùi hương thôi. Nàng ta lắm lời quá đỗi.
Khi ta đem lòng yêu thương một ai đó, thì ta sẽ luôn mong muốn những điều tốt đẹp nhất cho họ. Chỉ như vậy thôi thì ta cũng đã hưởng một niềm vui kỳ bí rồi. Vui thật nhẹ nhàng.
Nhưng một tình yêu tốt, một tình yêu đúng là khi hai kẻ yêu nhau vun đắp xây dựng cho nhau một sự độc lập. Xa nhau, cả Hoàng tử bé, cả bông hoa sẽ hiểu biết bao là tình yêu. Ngày hội ngộ sẽ là tất cả. Sá gì tấm thân nhỏ bé mong manh?
Tình yêu là vun trồng nuôi dưỡng, tuyệt không thể là sự sở hữu, hít ngửi được.

*Thật rất đơn sơ: người ta chỉ nhìn rõ với trái tim.
*Chẳng bao giờ người ta vừa lòng với nơi chốn mình đang ở.
- Nhưng nếu không từng ra đi, làm sao Hoàng tử bé biết mình yêu cái nơi chốn của mình đến vậy? “Lỡ từ lạc bước bước ra/Bước đi đi nữa đi là đi luôn”
*Tôi khát thứ nước nọ-nó tốt cho thân thể và tốt cho trái tim. Và tôi hiểu, chàng đã tìm kiếm cái gì.
- Con người ta trồng hàng ngàn đoá hồng mà chẳng tìm được cho mình một bông hồng, một hạt nước. Con mắt nó mù. Phải tìm kiếm bừng trái tim.
Làm sao để nói với mọi người đây, rằng có thứ nước tốt cho trái tim. Rằng hãy vun trồng, hãy đi tìm thứ nước tốt cho trái tim. Đừng hằn gắt với cuộc đời dù rằng đời đang hằn gắt với ta. Tôi nghe kể chuyện ở những vùng người ta trồng rau bán. Họ trồng 5 miếng đất cho riêng mình ăn, còn lại 50 miếng kia để phun thuốc hoá học. Làm sao để con người hiểu rằng 50 thửa vườn tinh sạch, đem lại xiết bao sự bổ dưỡng cho trái tim. Sao họ biết được đâu là cái mình cần tìm kiếm? Con mắt nó mù-phải tìm kiếm bằng trái tim cơ!

*Ngộ nhận và đối thoại nội tâm.
- Hoàng tử tí hon, vốn chất vấn tôi rất nhiều, lại chẳng bao giờ có vẻ nghe những câu tôi hỏi. Chỉ nhân những tiếng tình cờ, những lời ngẫu nhiên, mà dần dà tôi rõ hết mọi sự.
- Phải, chỉ những suy tư, những trao đổi, cảm thông và sự tuần dưỡng nhau mới có thể rõ được hết mọi sự. Phải kiên nhẫn. Hãy lắng nghe, tin tưởng và chia sẻ cùng nhau. Rộng lòng rồi ra anh sẽ rõ hết mọi sự!

Câu chuyện là lời kể mơ màng về một viễn tượng xa xăm, nơi tâm hồn có thể đối diện và chất vấn chính mình. Nơi trái tim được xao động yên lành. Phải, là tôi hỏi đó, là tôi đáp đó. Nực cười xiết bao khi anh đứng về bên này mà bỏ qua bên kia. Sinh tồn là liên tồn. Hãy lắng nghe những thao thức rung động từ muôn ngàn tơ nhịp quan hệ, giữa ta và hiện hữu. đừng tự lừa dối mình, đừng cho phép những cây cẩm quỳ nho nhỏ mọc lên rậm rạp. Sự trì hoãn bê trễ sẽ làm lên thảm kịch cho tinh cầu nhỏ nhoi của anh đấy.
Ai đã gặp Hoàng tử bé sẽ tránh được ngộ nhận. Kẻ ngộ nhận, sỗ sàng vơ vét ngôn từ, mà chẳng nắm được gì. Lý luận cò ke, biện giải lằng nhằng chẳng bằng một gàu nước mát tốt cho trái tim. Hoàng tử bé đi mất, để từ đây hoang mang ta tìm Hoàng tử bé trong mỗi người, mỗi nơi chốn ta qua. Từ đây, đâu đâu cũng phảng phất, cũng rưng rưng kỷ niệm. Quê nhà ta sẽ rộng rãi xiết bao!

(Hoàng tử không phải là ông vua. Vua thì có quyền với mọi sự. Còn hoàng tử thì luôn được mọi sự ưu ái, hoàng tử liên hệ tự nhiên với mọi sự, sinh ra đã là như thế. Hoàng tử bé vì khi người ta còn bé người ta luôn biết mình tìm kiếm cái gì-bằng trái tim. Bé chứ không nhỏ.)

Mịt mùng một nẻo quê chung
Người về cố quận muôn trùng ta đi…

(Người bạn thân thiết hỏi tôi “Làm sao để hiểu rõ hơn những cảm nhận mơ màng từ Hoàng tử bé?” “Không thể” Nói vậy nhưng một lần mất ngủ tôi đã hồ đồ viết những dòng này. Hôm nay, cũng một lần mất ngủ, tôi lại hồ đồ gõ lại và gửi lên đây. Sáng mai, nghĩ kỹ có khi tôi lại ngần ngừ rồi lại thôi. Đây chỉ là những lời nói tuỳ hứng vì vậy điều duy nhất gửi đến bạn là lời giới thiệu về vài ba tác giả, tác phẩm. Ngoài ra xin coi như lời nói vui vẻ giữa bạn bè-để vui chuyện, một kiểu lý sự cùn).
langtubachkhoa
Các bác có ai có bản softcopy chuyện ngắn Phố của Chu Lai không nhỉ?
Sao quyển này trên mạng lại không có mới lạ
Mr. Smith
Phố là tiểu thuyết, chứ không phải "chuyện ngắn" leuleu.gif
Mà phong trào sai chính tả trờ với chờ noi gương hoa hậu của làng dạo này hơi bị cao.
Đây, tớ tìm thấy có truyện ngắn "Phố nhà binh", sau này Chu Lai phát triển thêm thành tiểu thuyết Phố.
http://vnthuquan.net/truyen/truyen.aspx?ti...q83a3q3m3237nvn
Chu Lai kể ra cũng có hai tiểu thuyết hay và buồn đến xót xa là Phố và Ăn mày dĩ vãng. Nhưng Ăn mày dĩ vãng có lẽ buồn và nhiều sáng tạo hơn. Phố lại được phần sắc sảo trong phân tích tâm lý nhân vật và mô tả một giai đoạn giao thời của đất nước.
hạo nhiên
QUOTE(Phó Thường Nhân @ Jan 23 2006, 06:13 PM)

@Hạo Nhiên,
việc coi thời Trung cổ ở Tây âu là thời kỳ đen tối trong nghiên cứu của họ (phương Tây) đã qua rồi. Hiện nay thì người ta coi đó là một giai đoạn bản lề. Trong giai đoạn đó đã xuất hiện các thành tựu kỹ thuật, văn hoá. Hình thành dân tộc, nhà nước ở Tây Âu. Có rât nhiều quyển viết về thời Trung cổ (Moyen Age) như vậy. Tôi cũng có một vài quyển, nhưng xem lâu không nhớ tên, nếu có thời gian và không lười, thì tôi sẽ lục trong đống sách tôi có, để đưa mấy cái tít hay tác giả lên.
Tóm lại thời Trung Cổ nó cũng không đen tối, và khủng khiếp như người ta quan niệm trước đây. Tại sao lại có chuyện "trở cờ" như thế, thì tôi cũng không hiểu lý do, nhưng hiện tại ở Tây Âu người ta quan niệm như thế.
*



Đúng là như vậy, nói đen tối là nói ở một phương diện thôi. Em chưa có điều kiện đọc những ý kiến ấy nhưng cũng có ý ấy, nhưng vốn định đưa vào trong dự định viết bài giới thiệu về Nguyễn Hiến Lê, phần về bộ lịch sử văn minh phương Đông, nhất là lịch sử văn minh Ấn Độ của W.Durant về cái nhìn lịch sử. (..đọc lịch sử Ấn Độ, tự nhiên thấy lòng nhẹ bớt...nếu mình cũng phải chịu trong truyền thống 2000 năm ấy thì tự nhiên sẽ phải đi tìm kiếm một thái độ sống thế nào...dòng sông lịch sử đầy máu, những lừa gạt, đen tối.. thì bên bờ người ta vẫn trồng cấy, hái gặt và hát ca..(W.D)..). Vả lại, chẳng nên bao giờ chia cắt một sự ra ngoài toàn thể, ra khỏi hậu cảnh, khỏi dòng chảy sử lịch cả..Cám ơn bác!
Phó Thường Nhân
@Hạo Nhiên,
Cụ Nguyễn Hiến Lê hay Durant nói như thế nào thì tôi không rõ. Durant thì tôi có bộ sách văn minh thế giới của ông ta, nhưng mới đọc loáng thoáng, thì cảm tưởng của tôi là nó đã "quá date" nên chưa đọc. Có thể nghe bác nói thì sẽ đọc lại.

Những điều tôi nói về thời Trung Cổ ở trên, thì người ta mới cho ra từ khoảng thập niên 80 thôi, nên cụ Nguyễn và ông Durant khó có thể biết được, vì sách của họ là quan niệm của phương Tây thập niên 60,70.

Với tôi thì dòng sông lịch sử không đầy máu, mà vì chuyện máu lửa là những điều đặc biệt, nên người ta nói tới nhiều. Thái độ của người ta với những chuyện máu lửa ấy cũng quan trọng trong việc đánh giá. Tóm lại việc máu lửa được nói tới nhiều hơn những việc khác, nó bị nói quá nhiều so với những fact khác thì đúng hơn.

Nếu bác muốn tìm thấy một thái độ sống, thì khó có thể tìm nó trong lịch sử. Nó nằm ở trong tôn giáo và triết học. Chứ còn trong lịch sử thì người ta phải tỉnh táo để đánh giá, thậm chí phải đi ngược cả lại cảm tính, và số phận cá nhân. Điều này rất khó, không phải ai cũng làm được đâu leuleu.gif


langtubachkhoa
QUOTE(Agent Smith @ Jan 23 2006, 10:42 PM)
Đây, tớ tìm thấy có truyện ngắn "Phố nhà binh", sau này Chu Lai phát triển thêm thành tiểu thuyết Phố.
http://vnthuquan.net/truyen/truyen.aspx?ti...q83a3q3m3237nvn


Hehê, link không vào được

Mr. Smith
QUOTE(langtubachkhoa @ Jan 26 2006, 02:55 PM)
QUOTE(Agent Smith @ Jan 23 2006, 10:42 PM)
Đây, tớ tìm thấy có truyện ngắn "Phố nhà binh", sau này Chu Lai phát triển thêm thành tiểu thuyết Phố.
http://vnthuquan.net/truyen/truyen.aspx?ti...q83a3q3m3237nvn


Hehê, link không vào được
*



Bác vào Vnthuquan.net mà search.
Thị Anh
Sách cuối năm, đã làm 3 cuốn, rồi vác ra Giảng, nghe thằng em kể chuyện vơ vẩn.

1. Khung cửa hẹp. - Andre Gide (cụ Bùi Giáng dịch)
2. Triết học hiện sinh (Trần Thái Đỉnh)
3. Những người đàn bà tắm (Thiết Ngưng)
Phó Thường Nhân
@Thi Anh,
Hay nhỉ.
- Có phải cửa đã được mở nên không còn là "khung cửa hẹp" (Của Andre Gide). leuleu.gif
- Cửa đã mở, có nghĩa là đã chọn lựa rồi, vậy cần gì "triết học hiện sinh" (Của Trần Xuân Đỉnh) leuleu.gif
- Có phải tất cả sự chọn lựa cũng chỉ là cái đẹp của "Những người đàn bà đang tắm" (Của Thiết Ngưng) leuleu.gif

Hì hì, năm mới chẳng nhẽ lại "khai bút" bằng một bài nặng nề về hiện sinh.

Take it easy !!!!!!

Chúc tất cả mọi người một năm mới vui khoẻ và thành đạt.

cheers.gif
Thị Anh
QUOTE(Phó Thường Nhân @ Jan 30 2006, 05:29 PM)
@Thi Anh,
Hay nhỉ.
- Có phải cửa đã được mở nên không còn là "khung cửa hẹp" (Của Andre Gide). leuleu.gif
- Cửa đã mở, có nghĩa là đã chọn lựa rồi, vậy cần gì "triết học hiện sinh" (Của Trần Xuân Đỉnh) leuleu.gif
- Có phải tất cả sự chọn lựa cũng chỉ là cái đẹp của "Những người đàn bà đang tắm" (Của Thiết Ngưng)  leuleu.gif

Hì hì, năm mới chẳng nhẽ lại "khai bút" bằng một bài nặng nề về hiện sinh.

Take it easy !!!!!!

Chúc tất cả mọi người một năm mới vui khoẻ và thành đạt.

cheers.gif
*



Hìhì, bác Phó mới gọi là hay nhỉ?!!

Đúng ra, cuốn Khung cửa hẹp của A.Gide em định tặng cô TVũ nhân dịp năm mới nhưng mà ở nhà hai ngày 1-2 đã nghiền xong hai cuốn 1-3, nên em quyết định ko tặng cô này cuốn K.C.Hẹp nữa. Bởi cuốn này buồn cũng chết ng đi được.
Không biết có ai thích cách dịch của cụ Bùi Giáng không. Cá nhân em, ko thể tiêu hoá nổi. Mặc dù vô cùng cảm kích về những gì cụ đã đọc và đã dịch, (nghĩa là cụ đọc có sự lựa chọn khá tốt), nhưng em ko thích đọc văn cụ dịch. Thơ của cụ Bùi lại là một chuyện khác. Thế nhưng, khi đọc sách cụ Bùi dịch, em thi thoảng cũng được cười tủm cười tỉm một tí. Bởi cụ cứ chêm: nào là thanh niên Việt, Kiều, Loan, mỹ nữ x-y-z nọ kia. Nhất là khi đọc cuốn của M.Heidegger mà cụ Bùi nhà ta dịch thì giời ơi, tùm lum không thể tả. Và những lúc như thế thì em tự trách mình ngu lâu khó đào tạo, dốt nát ngoại ngữ không thể đọc ít nhất bằng tiếng Anh.
Nhưng mà nói chung, cụ Bùi là một người giỏi một cách tài tử, hết mình. Một người, sống, thở, chết với cái gì họ thích.

Còn cuốn Những người đàn bà tắm của nhà văn nữ người Trung Quốc Thiết Ngưng. Em thích. Rất gần gụi với Việt Nam. Đọc xong, mới thấy hơi hướng của Thuận và Thiết Ngưng gần chạm vào nhau.

Nói chung, đầu năm, đọc xong mấy cuốn này, đều có cảm xúc.
Pages: 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25
Quán nước đầu làng Ven > Sáng Tác - Thảo Luận - Phổ biến kiến thức > Văn Học & Ngôn Ngữ
Bạn đang xem phiên bản gọn nhẹ của diễn đ n dưới dạng text, để xem các b i viết với đầy đủ mầu sắc v hình ảnh hãy nhấn v o đây !
Invision Power Board © 2001-2022 Invision Power Services, Inc.