Langven.com Forum

Giúp đỡ - Lục lọi - Dân l ng - Lịch
Full Version: Trên giá sách
Quán nước đầu làng Ven > Sáng Tác - Thảo Luận - Phổ biến kiến thức > Văn Học & Ngôn Ngữ
Pages: 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25
x
QUOTE(Mayday @ Jun 20 2005, 06:10 AM)
Cuốn 'Tư tưởng phương Đông gợi một điểm nhìn tham chiếu ' của Cao Xuân Huy rất đáng đọc .

' Nguồn gốc ngôn ngữ và ý thức ' của Trần Đức Thảo cũng hay .

Nói chung sách triết cực kỳ khó hiểu . Nhưng hiểu rồi thì đáng đồng tiền bát gạo thật .
*





Chết chết- cả 2 cuốn trên em đều không nuốt được. Quyển 1 của cụ Cao Xuân Huy thì nói như thầy bói- câu thứ nhất câu thứ 2 đã phủ định ngay thuyết logic của châu Âu, câu thứ 3 là một câu không giải thích, câu thứ 4 phóng đại triết Tàu (vốn nông toẹt).
Em thấy, cơ bản mà nói triết Đông chỉ mạnh phần "đạo đức học" (theo nghĩa rộng của từ này là gồm cả chính trị, xã hội, ứng xử .v.v), còn triết Tây không chỉ mạnh về phần "bản thể học" (theo nghĩa tìm hiểu con người như là chính nó, rồi thế giới, vũ trụ) mà kể cả đạo đức học cũng mạnh. Cụ Cao Xuân Huy thì cứ cố gọi triết Đông là Chủ toàn, còn triết Tây là Chủ biệt- trong khi về phần đạo đức học thì sự chủ toàn hay chủ biệt không rõ ràng lắm cả ở Đông lẫn Tây, còn về phần bản thể học thì coi như triết Đông thua triệt để- chả có gì mấy đáng kể để mà gọi là chủ toàn hay chủ biệt, còn trong triết Tây thì tồn tại cả 2 hệ thống này.

Giờ cứ lấy thử một câu hỏi mà Platon đặt ra để các bác thử nghĩ xem độ sâu về tư duy của ông ấy so với Khổng tử như thế nào: "tại sao người ta lại không gọi một mẩu gỗ là cây, và tại sao khi nhìn các cái cây khác nhau người ta đều nhận ra chúng là cây? Vậy có phải là có một cái gì đó ở cao hơn tất cả những cây thực sự, một cái gì đó có thể gọi là "ý tưởng" về cây để giúp chúng ta khi gặp một cái cây thì biết nó là cây và khi gặp một mẩu gỗ thì biết nó không phải là cái cây không?" Qua những suy nghĩ này Platon đưa ra học thuyết về "ý tưởng" qua đó chứng minh những vật thể như hình tam giác, hình cây .v.v. là những cái cũng tồn tại thực trong đầu chúng ta và từ đó là cho triết học phương Tây mấy ngàn năm đau đầu đi tìm cách phản biện cũng như phát triển, chứng minh tính đúng của nó.

-----

Cuốn 2 của cụ Trần Đức Thảo nói chung là đi vào hướng của bọn triết học phân tích nhưng do không nắm bắt kịp kiến thức của thế giới về ngôn ngữ học, nhận thức luận (nhất là nhận thức luận tiến hoá) nên đưa ra những giả thuyết khá vô lý mà ngôn ngữ học đã phủ nhận (về phần này em chỉ nghe, cũng không hiểu cặn kẽ). Nói chung cuốn này không đáng đọc lắm.
Mr. Smith
Hồm trước đọc vở kịch Death of a saleman của Arthur Miller. Rất hay. Không biết ở VN đã dựng vở này bao giờ chưa nhỉ? Một vở kịch có giá trị, phê phán sự giả dối và tự đánh lừa mình, ảo ảnh tan vỡ của một Giấc mơ Mỹ và sự khốc liệt trong xã hội tư bản. Có lẽ sẽ phải đọc thêm một ít của ông này.
Cái vở Người tốt thành Tứ Xuyên ngày xưa xem ở VN tớ chẳng hiểu gì cả, thấy cứ lằng nhằng một ông thì đóng nhiều nhân vật, lúc tốt, lúc xấu, nhưng vẫn giữ một ấn tượng khó quên với nó, có lẽ vì nó thách thức nhiều cái đã thành convention của mình hồi đó khi xem phim, kịch..: đơn tuyến, tốt xấu rõ ràng.
Brecht cũng có nhiều bài thơ hay phết, châm biếm, mỉa mai một cách cay đắng về một giấc mơ khác.

QUOTE(x @ Jun 20 2005, 03:00 PM)
Người hảo tâm thành Tứ Xuyên thì hình như hồi bé anh có xem rồi, VN diễn thì phải. Còn sang Tây anh lười, ngại đọc kịch kiếc nên chưa hề đọc cái gì của Brecht cả, xem cũng không blushing.gif . Vì sự nghiệp tán các em là trên tất cả  scared.gif  devil2.gif
*


Tiểu Vũ
Bác x lấy Khổng tiền bối ra làm thước đo cho triết học phương Đông thì phiến diện quá. Khổng Tử chú trọng vào việc thực hành lý tưởng. Triết học chỉ là công cụ để ông thực hiện lý tưởng. Nên nó cần dễ hiểu và đi vào những vấn đề số đông quan tâm.

Lưu ý một điểm là triết học phương Tây thời cổ thường đi vào phân tích mổ xẻ để có cái nhìn bản chất. Triết học phương Đông không hoàn toàn như thế. Nó chú trọng việc gợi mở để người ta có thể cảm nhận đầy đủ. Sự cảm và sự biết là hai trạng thái không hoàn toàn tương đồng.

Con đường đi của phân tích và mổ xẻ bao giờ cũng có giới hạn. Bên trong bản chất vẫn tiếp tục có bản chất sâu hơn, cao hơn. Bởi vậy Plato phải quy kết nguồn gốc của tư duy cho một thế lực siêu việt trên cùng. Những người không viện dẫn đến thế lực siêu việt tối cao, đơn giản là họ đặt cho nó một cái nhãn hiệu khác (will of power của Nisơ chẳng hạn). Số còn lại là những kẻ đặt ra các mô hình chưa hoàn chỉnh. Trong số này có Mark và các tiền bối của Mark. Mô hình của họ mô phỏng và lý giải một cách tương đối hiện thực. Nếu dồn họ mãi bằng câu hỏi "vì sao" thì tất nhiên sẽ bí bách tại giới hạn cuối cùng của sự chưa biết. Nhưng nói vậy không có nghĩa là triết học của họ kém sâu sắc.

Bây giờ nhìn sang phương Đông. Như đã nói, các triết gia phương Đông không chú trọng phân tích bản chất hiện thực. Thay vào đó họ tìm cách gợi mở những cảm nhận hàm súc trước hiện thực. Con đường đi của cảm nhận thì không có giới hạn. Các triết gia phương Đông hướng tới trạng thái thông suốt. Đó là trạng thái không còn bên trong bên ngoài, không còn bên trên bên dưới, cái trước cái sau, nguyên nhân kết quả, một trạng thái tự nó đầy đủ. Nói thì trừu tượng, có lẽ dễ hiểu nhất là ví dụ sau khi bác x có một cái xxx mỹ mãn chẳng hạn, đó là trạng thái thông suốt tuyệt đối, phải không nào? Tiện đây xin quảng bá cho cuốn Tình Dục và Tâm Thức của cụ Osho, một học giả người Ấn. Các bác có thời gian thì ghé mắt qua cuốn này.

Để có cái nhìn khách quan toàn cục với triết học phương Đông thì không thể không xem xét các tôn giáo lớn xuất phát từ Ấn Độ. Còn các anh Trung Quốc, ngoài tư tưởng cụ Lão, cụ Liệt, bác Trang, và vài thiền sư ra, theo thiển ý của tại hạ, những người còn lại không phải triết gia. Bác Khổng bác Mạnh có chí làm cách mạng cứu đời. Nho giáo là một thứ lý luận cách mạng dành cho việc tuyên truyền giới độc giả dân đen, tức là đám "tiểu nhân" đang cần tập tành ý thức bậc quân tử (tiểu nhân ở đây không có ý miệt thị của ngôn ngữ thông thường). Trong khi đó, tư tưởng Hàn Phi Tử thực chất là lý luận cách mạng cho giai cấp thống trị, phục vụ cho mục tiêu tập trung thống nhất quyền lực trung ương. Trong lịch sử Trung Quốc (tới tận bây giờ), giai cấp thống trị tuyên truyền Nho giáo (nhân, nghĩa, lễ, trí, tín) để duy trì trật tự, nhưng thực ra họ thực hành đường lối triệt để theo Hàn. Cả Nho và Hàn không có nhiều tính triết học. Chúng không có tham vọng đào sâu tận cùng vào cái chưa biết để tìm hiểu một bản chất sâu xa hơn cái đang nhìn thấy. Nói rằng chúng nông toèn toẹt là trên góc nhìn của anh nghiên cứu học thuật. Nói rằng chúng sâu sắc là trên góc nhìn của người muốn làm cách mạng phục vụ đời sống.
Mr. Smith
Thực ra triết học chính trị (political philosophy) cũng là một phần của triết học. Các cụ như Khổng tử, Mạnh tử, cũng giống các cụ Rousseau, Montesquieu bên Pháp đều là các nhà triết học chính trị.

Nhưng nếu ra ngoài triết học chính trị thì triết học phương Đông có xu hướng gắn với tôn giáo. Đúng hơn là triết học và tôn giáo lồng vào nhau rất nhiều. Đạo Phật, đạo Lão- Trang, đạo Hindu (có rất nhiều nhánh khác nhau) là các tôn giáo nhưng cũng có nhiều ý tưởng triết học rất sâu sắc. Điều này trái với phương Tây nơi triết học và tôn giáo đi theo hai con đường khác nhau, những cố gắng lồng ghép Platon, Aristote vào tôn giáo của mấy ông Saint (Augustine, Thomas d'Aquino) thời Trung cổ nói chung đều không thành công, tạo ra các sản phẩm hời hợt và xa rời với bản chất thực sự của ý tưởng. Thế nên nếu so sánh Platon với Khổng tử thì cũng chỉ nên so sánh trên phương diện triết học chính trị như giữa Chính danh của Khổng tử với The Republic của Platon, nếu không thì sẽ khập khiễng.
x
Hè hè có các bác tham gia thì vui rồi.

Ý em, em viết lại: Đông thiên chính trị, đạo đức, còn Tây toàn diện hơn- gồm cả chính trị, đạo đức lẫn bản thể học, khoa học. Như ý bác Matrix nói- là chỉ nên so đạo đức học Khổng với đạo đức học Platon thì em thấy rằng cũng phiến diện, vì bản thể học cũng vẫn là triết học (thậm chí ảnh hưởng lớn đến đạo đức học) và khi so sánh 2 triết gia với nhau, người ta không thể chỉ trích một phần ra để so được. Ví dụ dễ hiểu hơn: khi so sánh tài năng bóng đá giữa Pele và Maradona mà chỉ so phần khả năng sút bóng thì có khi Maradona thua Pele.

Cái phần mà Platon động tới và Khổng tử tránh- tức bản thể học- là phần thực ra cần tư duy chiều sâu và luận lý hơn (tức là việc của một nhà toán học, logic học), còn phần đạo đức học-tức là phần xây dựng mô hình (như một kiến trúc sư) thì dựa trên quan sát và cảm tính, kinh nghiệm nhiều hơn. Nếu đã nói đến luận lý- tức là qua một quá trình suy luận chặt chẽ thì khả năng sai rất nhỏ- hoặc nếu có sai thì cũng không phải là cái sai thông thường (vì thực ra Hume đã chứng minh Platon sai, rồi Kant lại chứng minh Platon đúng, đến bọn triết học phân tích Wittgenstein, Russell lại chứng minh Kant sai, và bây giờ người ta lại cho rằng Platon đúng! Nhưng sự đúng sai này rất phức tạp và mất thời gian tìm hiểu, không dễ dàng ngon ăn gọn nhẹ như đọc lời dạy của Khổng tử).

Ngược lại, khi xây dựng mô hình- người ta có thể không quan tâm đến tính đúng sai của nó, không quan tâm đến việc tìm hiểu những nguyên nhân làm nền tảng, đặt tiền đề đảm bảo tính đúng cho nó- như trường hợp Khổng tử là cứ xây dựng mô hình đạo đức xã hội theo hình chóp- con phải tuyệt đối tuân cha mẹ, dân phải tuyệt đối trung với vua... Nói tóm lại là Khổng tử tự tưởng tượng ra một mô hình và ép tất cả xã hội phải đi theo như thế mà không tìm hiểu bản chất sâu xa của sự tồn tại của con người, không lo tư duy về bản chất thực sự của tự nhiên. Mãi đến Tuân tử và Mạnh tử mới tìm cách đặt nền móng cho các lâu đài (bánh vẽ) của Khổng tử qua mấy cái mệnh đề: "nhân chi sơ tính bản ác" và "nhân chi sơ tính bản thiện". Tiếc thay- cả 2 mệnh đề này đều phiến diện và đều sai (kể cả tính giáo dục của chúng cũng sai nốt).

Tóm lại, về Platon vs. Khổng tử thì là 2-1. Platon đưa ra một đạo đức học, và dùng bản thể học để đặt cơ sở cho nó. Còn Khổng tử chỉ đưa ra một đạo đức học, mà không nghĩ ra một bản thể học nào để đặt cơ sở hợp lý cho nó. Không nói đến kết quả xã hội phương Đông vs. phương Tây hiện nay dù mấy trăm năm nay phương Tây thắng- vì lịch sử vài trăm năm không có ý nghĩa gì so với lịch sử cả triệu năm loài người- lúc bên này thịnh bên kia thịnh.

--- Em sẽ tiếp về Phật, Lão, Trang ngay.
x
Giờ em xin mổ thử các loại từ Hindu cho tới Phật, Lão, Trang.

Các bác này có cái giống nhau- là nguỵ biện. Nguỵ biện cái gì? Nguỵ biện ở cái qui tất cả về Một. Tại sao vậy? Vì các bác không lý giải được tiếp tại sao lại không phải là Một mà là Hai. Phật, không chỉ qui mọi thứ về Một, mà còn qui mọi vật về Một, là Một. Tại sao lại qui như vậy? Qui như vậy để không gặp rắc rối mỗi khi bị tra vấn đến tận cùng. Nếu các bác có đọc sách Phật rồi- hay đọc kinh điển Upanisha rồi, thì chắc cũng biết các đối thoại của Phật với các đệ tử trường phái khác luôn là một cách lý giải lúc đầu có luận lý, nhưng rốt cục lại lôi tuột người ta vào đường không giải thích được để rồi buộc người ta tin vào lý lẽ của mình. Giải thích của Phật vì thế rất giống thần chú: luôn lảng tránh qui kết mọi thứ về các loại như "tâm phân biệt", không hiểu "tính không", "u mê" hơn là nói đến tận cùng vấn đề. Cứ phủ đầu con nhà người ta như vậy- nhất là ở thời cổ đại vốn ai cũng tin là có thần linh, có những sức mạnh thần thánh và chả có gì là sự thật cả (chưa có vật lý, sinh học) - mà dân châu Á vốn bản chất ít nghĩ sâu đến cùng vấn đề- thì bố bảo đứa nào không sợ mà gật đầu sái cổ. Người về sau tìm cách đặt nền tảng cho các luận lý của Phật tổ là Long Thọ cũng không thoát khỏi sự vô lý. Nếu bác nào đã đọc Không luận và biết Logic phủ định tuyệt đôi của Long Thọ (có lẽ là nhân vật giỏi nhất của lịch sử đạo Phật, không trừ Phật tổ) mà suy luận thì cũng thấy ngay cả cách suy luận phủ định tuyệt đối của Long Thọ cũng có vấn đề, mặc dù rất hay. Tất nhiên, cái hay của Phật học là ở chỗ thực hành, và vì vậy, nó giống y hệt với một môn tâm lý học trị liệu hơn là triết học, với tư cách là triết học. Nó cũng không hoàn toàn giống các tôn giáo như Thiên chúa, đạo Hồi, vì các tôn giáo như đạo Thiên chúa, đạo Hồi chỉ bắt người ta tin chứ thậm chí còn không đưa ra được một lý luận đáng kể nào để qui mọi thứ được về một cái gì đó (Một) như Phật học. Còn Thiền học- có lẽ là trường phát được coi là quí tộc, ưu việt nhất của Phật học- cũng là cả một trò bịp bợm vô nghĩa đến tột cùng- tức là không có nghĩa gì cả. Ví dụ bác nào đọc Thiền Luận hay Bích Nham Lục thì sẽ biết các công án Thiền của họ chả có bất cứ một cái logic gì, từ câu trước đến hành động sau chả có nguyên nhân liên hệ gì với nhau- chỉ thấy mỗi những chữ :Ngộ, Ngộ, Ngộ.

Lão- Trang khá hơn Phật ở chỗ tạo ra một biện chứng pháp nhất định (có lẽ không phải công của hai ông này, mà là công của một dân tộc Trung Quốc cổ nào đó tạo ra Kinh Dịch)- qui mọi thứ về Một- về Đạo, về Thái Cực, nhưng còn tìm cách giải thích sự phát triển của tạo hoá một cách liên tục thông qua sự phân tách của Một thành 2- từ Thái Cực sang Lưỡng Nghi âm dương, rồi từ đó đi tiếp mà tạo ra vạn vật. Cái gọi là Đạo này của Lão- Trang cũng khá giống với triết học siêu hình của phương Tây- qui mọi thứ về một khởi điểm và mọi thứ phát triển tụ về một kết điểm- ví dụ- giống Heraklit thời trước Platon hay sau này là Hegel. Nhưng chính điều này cũng làm cho Lão học trở nên rõ ràng và cụ thể hơn (tức là để lộ nhiều sơ hở hơn) đạo Phật- và vì thế bị đánh tơi bời, bị coi là thấp hơn đạo Phật. Lý luận của những người coi đạo Lão thấp hơn đạo Phật là: trong đạo Lão có nhiều mâu thuẫn. Rõ rồi- nếu cứ coi một thứ là Một, không có phân biệt, không được phép có tâm phân biệt, có tâm phân biệt là Ngu si, u mê, thì bố đứa nào dám nghĩ khác mà bênh đạo Lão. Còn cái mà Lão- Trang thua so với Platon hay Aristoteles là khi Lão, Trang cảm thấy bất lực trước việc không giải thích được quá nhiều hiện tượng- họ ép chúng về một dạng hiện tượng học thô sơ: ví dụ chuyện "cá vui" của Trang tử. Nội dung của nó không có gì lạ: tâm ra sao thì vật ra vậy, hay nói cách khác- vật ra sao là do tâm quyết định, mọi thứ là do tâm mình, ở trong tâm mình. Nhưng Trang tử không (thiếu khả năng) tiến tới bước tiếp theo mà Platon đã đi và Aristoteles đi tiếp: tạo ra lý thuyết ý tưởng hay phủ định nó, mà bằng lòng với những trò bắt bẻ vặt vãnh khua ba tấc lưỡi đi chửi đổng thiên hạ.

Em nói năng dài dòng là vì có ý thế này: triết Đông không thiên về phân tích mà đơn giản là loại tư tưởng Chấp nhận. Khi không giải thích được tiếp nhiều vấn đề và không dám căng đầu nghĩ tiếp cho đến tận cùng vấn đề, Phật, Lão, Trang hy sinh logic chứ không chịu hy sinh thể diện của mình- thông qua cách qui mọi thứ về Một (hay gọi đẹp đẽ là Nhất Nguyên luận). Còn ngược lại, với bản chất cấp tiến và khoa học của mình- Platon, Aristoteles không chịu dừng lại cho tới khi họ không đi tiếp được nữa. Việc cố đi mãi này tất nhiên dẫn đến các sự phân biệt: Tôi- không Tôi, Có- Không, Thật- Giả, Đúng-Sai. Kết quả của nó thì là nền văn minh nhân loại được thay đổi bởi những tư tưởng phân biệt ấy. Chúng ta bỏ qua việc phân tích lịch sử thắng bại từng giai đoạn của các dân tộc, thì rõ ràng khoa học kỹ thuật là cuộc cách mạng cơ bản nhất trong các cuộc cách mạng của loài người. Từ đồ đá lên đồ đồng đồ sắt chỉ là thay đổi công cụ đơn giản, từ đồ đồng đồ sắt lên máy cày máy kéo là cả một sự tiến hoá khác hẳn- một sự tiến hoá mà theo một cách nào đó chúng ta có thể nói rằng giống như sự tiến hoá từ thực vật lên động vật: máy móc là một dạng (thần kinh) động vật so với nguyên liệu, kim loại là dạng (thần kinh) thực vật.
x
Về phần "ý chí vươn tới quyền lực" của Nietzsche (đọc là Nít-trờ) với "tất cả là ý chí (và tưởng tượng)" của Schopenhauer (có thể đọc là Xốp-pền-hau-ờ) thì em tán phét thêm vài câu cho vui, có đầu có đũa cho các bác chưa biết đọc bài bác Tiểu vũ hiểu thêm:

Schopenhauer học Kant và đặc biệt hâm mộ Kant. Khi thấy Kant bị rơi vào nghịch lý với thuyết Vật-tự-nó (tiếng Đức là "Ding-an-sich") Schopenhauer mới tìm cách cấp cứu nó. Vật-tự-nó của Kant đại loại chúng ta có thể hiểu như "bản thể của vật thể - tức là cái nằm trong không hiện ra ngoài. Ví dụ ai cũng nhìn thấy hình dáng bên ngoài, mặt mũi của bác Tiểu Vũ, nhưng bản thể của bác Tiểu Vũ là cái gì thì chả ai biết được cả? Theo Kant- việc có thể nhận biết được bản thể của bác Tiểu Vũ là nằm ngoài khả năng của kinh nghiệm, của giác quan quan sát (nói thêm với bác nào biết Kant: Anschauung là quan sát, nhìn- người Anh dịch thành Intuition, dịch sang tiếng Việt thành Trực giác có lẽ không chính xác vì từ Intuition và trực giác trong tiếng Việt không chỉ có ý nghĩa như nhìn, quan sát). Chúng ta chỉ có những trực giác về sự tồn tại của nó, nhưng không thể nhận thức được nó. Và vì thế Kant coi nó là một dạng Siêu việt (Transcendence) và không thuộc vào bất cứ một phạm trù nhận thức nào (Kant chia các tính chất để nhận thức thành 12 phạm trù- ví dụ : bản chất, chất lượng, số lượng, quan hệ nhân quả..).

Việc Kant coi bản thể của sự vật là không thể nhận thức được bằng giác quan, kinh nghiệm tạo ra những chỉ trích lớn với học thuyết của ông: bọn thiên về duy lý (Rationalism) như Fichte, Hegel thì coi việc đó là thiếu sót- vì làm như vậy là bịt hết đường tìm hiểu bản chất của sự vật, trong khi bản chất của bọn duy lý là duy tâm- muốn giải thích triệt để mọi hiện tượng và qui chúng về những đối tượng siêu hình tinh thần; còn bọn thực nghiệm (Empirism) ở Anh thì trong suốt một thời gian dài không bẻ lại được Kant nên không phát triển tiếp các lý thuyết siêu hình mà chuyển sang triết học chính trị- như bọn triết học vị lợi của Bentham, Mill. Hegel sau đó đẩy tiếp mọi thứ lên đến cực điểm của duy tâm- bằng con đường biện chứng duy tâm- qui tất cả mọi thứ khi phát triển đến cực điểm về "tinh thần tuyệt đối" để chứng minh Vật-tự-nó chỉ là các hiện tượng của thế giới tinh thần. Schopenhauer thì ngược lại, phản đối Hegel và nhân việc tìm hiểu đạo Phật, ông đưa ra một lý luận khác cho Vật-tự-nó: tất cả bản chất của bản thể là ý chí- cả thế giới là ý chí, mọi vật là do ý chí tạo ra, ý chí quyết định tất cả. Đến Nietzsche mà bác Tiểu Vũ nhắc tới, là người thừa kế và phát triển Schopenhauer - Nietzsche đi tiếp bước nữa là coi ý chí của con người không chỉ là ý chí chung chung mà là ý chí vươn tới quyền lực. Nguyên nhân Nietzsche coi đặc tính cơ bản của con người là ý chí vươn tới quyền lực có mấy lý do chính sau đây:

1. Sự chán nản đối với xã hội Đức/châu Âu đang chuyển mình thành tư bản đế quốc thời đó (ở nước Đức thì đặc biệt là Do Thái có nhiều tiền). Nietzsche kết tội Thiên chúa giáo vì coi Thiên chúa giáo là một phần nguồn gốc làm suy thoái con người và không làm đúng chức năng giáo dục con người như tư tưởng ban đầu của nó. Đồng thời Nietzsche kết tội văn hoá Hy Lạp cổ đại vì các văn hoá Hy Lạp cổ đại chỉ cho thấy một thế giới các vị thần cai quản tạo ra sinh mệnh cho con người còn vô trách nhiệm và buông thả hơn chính con người (sử thi Ilias- chíến tranh thành Troja .v.v.). Ở điểm này Nietzsche và Wagner hợp ý nhau và trở thành bạn thân- nhưng về sau Nietzsche đã giận Wagner vì cho rằng Wagner không thực sự muốn cải cách Thiên chúa giáo.

2. Tác động của tiến bộ khoa học- đặc biệt là thuyết chọn lọc tự nhiên của Darwin.

Vì 2 lý do cơ bản đó, thay vì gọi bản chất của con người- hay bản chất chung của sinh vật là đấu tranh sinh tồn, Nietzsche gọi nó là ý chí vươn tới quyền lực nhằm tạo ra một lịch sử khác, một nền văn minh khác thay đổi nền văn minh vô trách nhiệm của Thiên chúa giáo, đồi bài của tư bản đế quốc châu Âu. Ý chí vươn tới quyền lực có thể diễn đạt theo một cách khác: quyết tâm thay đổi mình, thay đổi xã hội. Đại loại cách của Schopenhauer với Nietzsche cũng là duy tâm- thay vì tôn thờ linh hồn, họ tôn thờ ý chí - như bác Tiểu Vũ đã nhắc đến.



--------------

Kết quả của Nietzsche: Hitler! Hitler là một tay đặc biệt hâm mộ Wagner với Nietzsche- và gần như tiến hành đúng như những gì Wagner với Nietzsche viết một cách cực đoan. Wagner viết: "phải xây dựng lại thiên chúa giáo, huỷ diệt Do Thái giáo". Nietzsche viết: "phải sinh ra một loài người mới- một dạng siêu nhân". Kết quả là Hitler kết hợp luôn cùng lúc 2 việc- một mặt tuyển chọn dân Đức tóc vàng mắt xanh (mà hắn coi là dân German nguồn Arias- bắt nguồn từ một nhánh của Thiên chúa giáo- không tin thuyết 3 thể) để "tạo ra một loài người mới", một mặt tìm cách giết sạch Do Thái. Tất nhiên là đứng sau lưng Hitler còn một lũ tư bản Đức và châu Âu muốn giết Do Thái để cướp của khác.
Tiểu Vũ
QUOTE(x @ Oct 25 2005, 04:51 PM)
Giờ em xin mổ thử các loại từ Hindu cho tới Phật, Lão, Trang.

Các bác này có cái giống nhau- là nguỵ biện. Nguỵ biện cái gì? Nguỵ biện ở cái qui tất cả về Một. Tại sao vậy? Vì các bác không lý giải được tiếp tại sao lại không phải là Một mà là Hai. Phật, không chỉ qui mọi thứ về Một, mà còn qui mọi vật về Một, là Một. Tại sao lại qui như vậy? Qui như vậy để không gặp rắc rối mỗi khi bị tra vấn đến tận cùng. Nếu các bác có đọc sách Phật rồi- hay đọc kinh điển Upanisha rồi, thì chắc cũng biết các đối thoại của Phật với các đệ tử trường phái khác luôn là một cách lý giải lúc đầu có luận lý, nhưng rốt cục lại lôi tuột người ta vào đường không giải thích được để rồi buộc người ta tin vào lý lẽ của mình. Giải thích của Phật vì thế  rất giống thần chú: luôn lảng tránh qui kết mọi thứ về các loại như "tâm phân biệt", không hiểu "tính không", "u mê" hơn là nói đến tận cùng vấn đề. Cứ phủ đầu con nhà người ta như vậy- nhất là ở thời cổ đại vốn ai cũng tin là có thần linh, có những sức mạnh thần thánh và chả có gì là sự thật cả (chưa có vật lý, sinh học) - mà dân châu Á vốn bản chất ít nghĩ sâu đến cùng vấn đề- thì bố bảo đứa nào không sợ mà gật đầu sái cổ.
*



Cách đặt vấn đề của bác x dễ gây hiểu lầm. Để chứng minh một lý thuyết là nguỵ biện thì phải cho thấy nó có điểm tự mâu thuẫn (tức là không giải quyết được một khúc mắc nào đó dựa trên những giả thiết đặt ra ban đầu). Khi ta không chứng minh được nó tự mâu thuẫn thì có thể nói, tôi không thích những giả thiết của bạn ở điểm này điểm kia. Qua cách trình bảy của x tôi thấy có lẽ x không bị thuyết phục bởi các giả thiết của nhà Phật hơn là chứng minh được nó tự mâu thuẫn.

Thuyết nhà Phật coi bản thể muôn vật là một. Muôn vật kết nối bởi quan hệ nhân quả, có cái này rồi sinh ra cái kia. Vòng luân hồi tuy mang tính tôn giáo song cũng là hệ quả của quan hệ nhân quả nói trên. Thất tình lục dục là những yếu tố tạo ra những nhu cầu cá nhân. Có nhu cầu cái nhân là có cái tôi. Có cái tôi tức có tâm phân biệt. Chìm trong tâm phân biệt thì u mê không nhìn thấy được tổng thể. Thất tình lục dục cứ thế mà biến đổi theo các quan hệ nhân quả. Sáu cõi súc vật, ngã quỷ, người, thần, thánh, tiên thuộc vòng luân hồi u mê không dứt này.

Trong con mắt triết học, những vấn đề trên đơn giản là các giả thiết. Các giả thiết trên đặt ra để làm gì? Để tạo cơ sở lý thuyết trực tiếp giải quyết từ gốc những khúc mắc đau khổ của chúng sinh. Giải thích cặn kẽ cơ chế vận hành của từng hiện tượng tự nhiên và xã hội không phải là mục đích của lý thuyết này. Phật giáo không dạy người ta chế tạo ra máy cày. Cũng không dạy người ta lý thuyết quản lý doanh nghiệp. Những vấn đề cụ thể trong con mắt phương Đông thuộc về "phương thuật". Triết học phương Đông chỉ tập trung vào vấn đề đạo thuật, không đi vào giải quyết phương thuật.

Những người tìm đến với Phật giáo rồi gật đầu sái cổ không đơn giản vì người ta dốt. Mà vì người ta tìm thấy cái mình đang tìm. Đó là sự yên bình trong tinh thần. Điều ấy có ngăn trở gì quá trình tiến hoá của khoa học không? Theo tôi thì không. Chẳng có lí do gì một anh nông dân cần nghiên cứu chế tạo máy cày sẽ vì nghe kinh Phật mà ngừng công việc tìm hiểu của của mình cả.

Phật giáo có hời hợt trong việc phân tích bản thể không? Chưa chắc. Phật giáo tập trung vào vấn đề trừu tượng và tinh tế nhất của bản thể, đó là tâm thức. Đây là phần đáng quan tâm nhất và cũng thú vị nhất. Chẳng hạn, theo quan niệm nhà Phật, tâm nằm ở bụng, cách dưới rốn ba đốt ngón tay. Từ quan niệm này dẫn đến việc thiền định thông qua luân chuyển hơi thở đều đặn. Trong hơi thở đều đặn và sự an định tinh thần, bờ cõi của giác ngộ được gợi mở. Thiền định không còn là một khái niệm tượng trưng mà thực sự là một hiện hữu cụ thể. Không còn là đơn thuần lý thuyết mà thực sự là một trải nghiệm thực tế. Lại phải nhắc lại rằng Phật giáo coi trọng sự trải nghiệm thực tế hơn là phân tích lý trí. Lý trí dù sắc bén đến đâu nhưng chỉ ngồi một chỗ thì chẳng thể nắm bắt được bao nhiêu.
Tiểu Vũ
QUOTE(x @ Oct 25 2005, 04:06 PM)
Tóm lại, về Platon vs. Khổng tử thì là 2-1. Platon đưa ra một đạo đức học, và dùng bản thể học để đặt cơ sở cho nó. Còn Khổng tử chỉ đưa ra một đạo đức học, mà không nghĩ ra một bản thể học nào để đặt cơ sở hợp lý cho nó.
*



Như đã nói, Khổng Tử là người chủ trương giải quyết các vấn đề của số đông trong xã hội, cụ thể là tình trạng bạo lực và vô trật tự phổ biến thời Xuân Thu Chiến Quốc. Có thể nhìn khái quát Nho học của Khổng Tử thế này. Nho học dạy con người cách hành xử trong một tổng thể các mối quan hệ cá nhân và xã hội. Hành xử theo Nho học bắt đầu từ Lễ và kết thúc ở Lễ. Việc con hiếu thuận cha, tôi trung với vua, đó là những hiện tượng được cho là phù hợp theo Lễ. Vì sao phải hành xử theo Lễ? Vì gốc của người là Nhân. Hành xử theo Lễ là để phù hợp với bản chất của người. Khổng Tử nói với Tử Lộ: "ta chỉ nắm một mối mà thông suốt tất cả". Bởi vì Nhân giải thích bản chất và hiện tượng của tất cả những cái còn lại.

Nhân là gì? Đây là phần tinh tế của Nho học. Nhan Hồi nói: "bậc đại nhân là kẻ thương mình" (1). Khổng Tử khen: "người quả là bậc sỹ quân tử". Vậy Nhân xuất phát từ bản năng nâng nưu và bảo dưỡng bản thân. Khổng Tử cũng nói "một người nông dân biết hiếu thuận với cha mẹ, hoà hợp với xóm giềng, người ấy là thầy của ta". Vậy Nhân cũng là hài hoà trong quan hệ của một cá nhân. Như vậy, Lễ thực chất là hiện tượng mang tính hệ quả của Nhân. Vì Nhân nên mới cần Lễ. Nhân hiểu rộng ra có thể là sự hoà của mỗi cá nhân trong tổng thể. Lễ là phương tiện để đạt đến sự hài hoà này.

Những lời dạy trên của Khổng Tử chỉ trong những hoàn cảnh đặc biệt phù hợp, không mang tính hàn lâm chính tắc. Lý do chính có lẽ vì ông là nhà hoạt động chính trị. Nhà chính trị nào cũng ưu tiên được việc của mình hơn là để lại di sản học thuật cho đời. Vì là nhà chính trị nên ông thấy rõ hiệu quả giảng dạy của mình rất hạn chế trong một thời gian ngắn ngủi. Ông từng nói, tiểu nhân và đàn bà, cùng không thể nào dạy được!! Ông cũng nói, quân tử như gió lớn, tiểu nhân như cỏ dại, gió chiều nào thì cỏ phải nghiêng chiều ấy. Ông có chí làm cách mạng đảo nghịch thời thế hơn là cải tạo bản chất người.

Tóm lại, Khổng Tử thiên về nhà hoạt động hơn một con người của học thuật. Học thuyết của ông được rao giảng nhiều là do phù hợp với điều kiện phát triển của cơ chế chính trị, phục vụ cho lợi ích của nhà cầm quyền. Những lời dạy của ông tinh tế và thâm thuý, nhưng cũng giống như mọi triết học Đông phương khác, chúng thiên về gợi mở ra những cảm nhận hàm súc hơn là đặt các nền tảng vững chãi cho các ngành khoa học khác. Nắm một mối mà thông suốt tất cả, không có nghĩa là cái gì cũng biết. Đơn giản chỉ có nghĩa biết mình đang ở đâu, hành xử thế nào cho phù hợp trong một tổng quan lớn các mối quan hệ xã hội.


(1) Nhan Hồi nói: bậc đại nhân là kẻ thương mình. Bậc đại trí là kẻ biết mình.
Tiểu Vũ
QUOTE(x @ Oct 25 2005, 04:51 PM)
Em nói năng dài dòng là vì có ý thế này: triết Đông không thiên về phân tích mà đơn giản là loại tư tưởng Chấp nhận. Khi không giải thích được tiếp nhiều vấn đề và không dám căng đầu nghĩ tiếp cho đến tận cùng vấn đề,  Phật, Lão, Trang hy sinh logic chứ không chịu hy sinh thể diện của mình- thông qua cách qui mọi thứ về Một (hay gọi đẹp đẽ là Nhất Nguyên luận). Còn ngược lại, với bản chất cấp tiến và khoa học của mình- Platon, Aristoteles không chịu dừng lại cho tới khi họ không đi tiếp được nữa. Việc cố đi mãi này tất nhiên dẫn đến các sự phân biệt: Tôi- không Tôi, Có- Không, Thật- Giả, Đúng-Sai. Kết quả của nó thì là nền văn minh nhân loại được thay đổi bởi những tư tưởng phân biệt ấy. Chúng ta bỏ qua việc phân tích lịch sử thắng bại từng giai đoạn của các dân tộc, thì rõ ràng khoa học kỹ thuật là cuộc cách mạng cơ bản nhất trong các cuộc cách mạng của loài người. Từ đồ đá lên đồ đồng đồ sắt chỉ là thay đổi công cụ đơn giản, từ đồ đồng đồ sắt lên máy cày máy kéo là cả một sự tiến hoá khác hẳn- một sự tiến hoá mà theo một cách nào đó chúng ta có thể nói rằng giống như sự tiến hoá từ thực vật lên động vật: máy móc là một dạng (thần kinh) động vật so với nguyên liệu, kim loại là dạng (thần kinh) thực vật.
*



Triết học nào cũng tập trung nghiên cứu hai vấn đề. Một là bản chất các mối quan hệ giữa cá thể và môi trường, cá thể và chính nó, cá thể và đấng sáng tạo (nếu có). Hai là bản chất đằng sau những biến chuyển nội tại và tương tác của các mối quan hệ này. Mỗi triết học đặt ra những giả định riêng, lý luận riêng, để giải quyết những vấn đề nó thấy cần giải quyết. Rất dễ khập khiễng khi nói rằng triết học này đúng, triết học kia sai. Đơn giản có thể chỉ là chúng tập trung giải quyết những khía cạnh khác nhau của cùng một vấn đề.

Đối với đóng góp cho khoa học, hãy xuất phát từ các ngành khoa học căn bản. Triết học phương Đông không đóng góp được gì. Triết học phương Tây đóng góp ở mức độ vừa phải trong hai yếu tố. Một là gợi mở ý tưởng. Hai là gợi ý phương pháp luận sao cho việc nghiên cứu tiến hành chặt chẽ, khách quan. Tư duy cẩn thận chặt chẽ, trí tò mò thôi thúc, khả năng tưởng tượng phong phú, đó là ba yếu tố quan trọng hơn hết ảnh hưởng tới phát kiến khoa học. Tôi không nghĩ những nhà học thuật phương Đông thiếu những tố chất này, nếu có thì cũng không nhiều. Trở ngại lớn hơn đến từ hoàn cảnh xã hội mang đặc thù phong kiến phương Đông.

Với phạm trù khoa học xã hội. Ngoại trừ kinh tế học được nuôi dưỡng trên cái nôi toán học, các bộ môn lý thuyết khác thành công đóng góp cho nhân loại vẫn còn khá vừa phải. Tâm lý học, xã hội học đều là những ngành thực hành. Lý thuyết của chúng còn quá non trẻ để đem ra luận bàn chuyện được mất thiệt hơn.

Nhìn chung khoa học phương Tây phát triển được tôi nghĩ không phải do cơ sở tư duy triết học của nó tốt hơn. Họ tiếp thu kỹ thuật chế thuốc súng từ Trung Hoa rồi cải tiến dần lên. Đó là một quá trình qua các bước cụ thể tỉ mỉ, hoàn toàn không phải đại nhảy vọt. Để ra được cái máy cầy cần có kỹ thuật luyện kim, hoá dầu, động cơ đốt trong. Nhưng vĩ đại nhất là tư duy chế phụ kiện có thể thay thế được. Nếu không có tư duy này thì đến nay ô tô vẫn còn là đồ hiếm hoi xa xỉ như vệ tinh vũ trụ. Tư duy chế phụ kiện thay thế được xuất phát ngay trong nhu cầu buôn bán trao đổi chứ không cần phải truy tìm gốc gác xa xôi nào cả. Không có nó thì còn lâu khoa học mới tự nuôi được bản thân nó. Chính tư duy sản xuất hàng loạt phụ kiện thay thế được là đạo diễn cho thành công ngoạn mục của kỹ nghệ phương Tây những thế kỷ gần đây. Phương Đông chỉ được thực sự tiếp xúc với tư duy này trong thế kỷ 20. Người Nhật đã thành công đáng kính nể dù họ chẳng có tư duy triết học gì cho riêng mình. Những nước khác chưa thành công hẳn do điều kiện lịch sử khách quan.
Tiểu Vũ
Đề nghị cụ Chánh nào biết cách chuyển những bài viết của bác x và tôi đang bàn sang chủ đề khác phù hợp trong box Văn Hoá. Hoặc PM cách chuyển cho tôi. Xin cảm ơn.
x
Hì hì bác Tieuvu, bác cần em chứng minh thì em chứng minh ngay, chuyện nhỏ như con thỏ. sp_ike.gif


Phật học có cái mâu thuẫn đầu tiên là ở chỗ- nó là một học thuyết duy tâm cực đoan, có phần còn cực đoan hơn cả Hegel. Phật học phủ nhận Brahman, nhưng lại qui mọi thứ về một thứ siêu hình, coi vạn tượng là một, tìm giải thoát ở Niết Bàn-(hoá thành vũ trụ, hoà với vạn vật). Sự qui về Một này - coi mọi vật là giả tướng- không phải là duy tâm cực đoan nguỵ biện thì là cái gì?, nếu như chúng ta công nhận là ngoài chúng ta- ngoài em và bác Tieuvu, các bác khác, còn có con chó, con mèo, hòn đá, cục đất .v.v. khác với chúng ta, không phải là chúng ta.

Nhưng cái mâu thuẫn nghiêm trọng nhất của đạo Phật là ở việc nó công nhận có sự Luân Hồi (và dạy người ta thoát khỏi kiếp Luân Hồi để lại trở thành một dạng linh hồn bất tử khác, một kiểu Brahman khác). Em đặt ra 2 câu hỏi, để tự bác và các bác khác trả lời cho nó vui nhé:

1. Giả sử có cái gọi là kiếp sau của AQ, vậy kiếp sau đó mang thân xác của AQ kiếp trước hay chỉ tinh thần của AQ kiếp trước hay mang cả thể xác lẫn tinh thần của kiếp trước?

2. Để xác định được một AQ là một AQ cần kiểm tra những điểm nào? Nói đơn giản hơn: cái gì quyết định tôi là tôi?


Sự vô lý thứ 3, sâu hơn cả, là luận lý học tính không, phủ định tuyệt đối của Long Thọ, nhưng em xin tạm tránh không nói đến phần này vì không cần thiết.
x
Còn về Khổng tử thì ý em tiếp thế này. Như em đã nói từ trước, vì Khổng tử không đặt ra được một cái nền tảng bản thể học đủ sâu để giải thích các học thuyết của mình, nên về sau Mạnh Tử và Tuân tử mới phải vá lỗ hổng bằng việc coi "nhân chi sơ tính bản thiện" hoặc "nhân chi sơ tính bản ác" để từ đó lý giải việc tại sao lại có hoặc phải có Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín của Khổng tử. Tuy nhiên cả hai cái nền của Mạnh Tử và Tuân Tử cho tới thời điểm này đều sai- nhưng đó là cái sai mà em cho rằng đáng quí, vì dù sao 2 ông ấy cũng đã đưa ra được những mô hình nền móng mà qua đó Khổng học có cơ sở để đặt toà lâu đài đỏ chót của mình lên mấy ngàn năm mà không bị đổ sập. (tất nhiên nó không đỏ còn vì về sau khi Tàu thống nhất rồi nên môi trường không có cơ hội để giúp cho các luồng tư tưởng mới, khác phát triển nữa - đây cũng là bi kịch học thuật của các đế quốc tập trung quá lớn).

Ngoài ra, nếu bác coi Khổng tử thiên về việc là một nhà chính trị, xã hội chứ không phải một triết gia chuyên nghiệp như Platon, Aristoteles thì không có gì để cãi cọ tiếp cả. Có lẽ vì thế nên người ta hay gọi Khổng tử là "người thầy lớn" chứ không phải triết gia lớn.
x
Về việc Đông khác Tây em xin mạn phép kể lại một chuyện sảy ra cách đây 3 năm. Hồi đó em về VN chơi, một lần đến trường Xây Dựng (khoa kiến trúc) với thằng bạn em lúc đó đang học ở đấy. Vào lớp thì nhận ra anh giảng viên là bạn em cũng ở Đức về. Anh em gặp nhau thế là anh ấy bảo em ngồi nghe rồi nói chuyện với cả lớp về sự khác nhau giữa nước Đức với VN. Nói chuyện ba hoa một lúc thì có bạn sinh viên hỏi:

- "Có sách viết rằng, thời đại này đang là thời thịnh trị của phương Tây, nên là thời Bĩ Cực, mọi thứ xấu xa, phải đến thời phương Đông vượt lên mới là thời Thái Lai của thế giới, cậu nghĩ thế nào?" scared.gif

Em đã trả lời khá ngắn gọn thôi:
-"Theo mình thì thời đại của phương Tây hiện nay không phải là Bĩ cực, mà khi phương Đông lên cũng chắc không phải là Thái Lai. Sự khác nhau cơ bản của phương Đông và phương Tây có thể lấy ví dụ thông qua việc này: Bây giờ giả sử bố hay mẹ của bạn bị bệnh nặng, bạn thích thế nào? Bạn coi những người chỉ an ủi, động viên bạn rằng đó là lẽ tự nhiên của trời đất, bố mẹ bạn chết là giải thoát khỏi đau khổ, sẽ được sung sướng là những người tuyệt vời hơn; hay bạn thích những người tìm cách chữa trị cho bố mẹ bạn bằng các phương tiện y học hiện đại hơn?" sp_ike.gif


Đấy là sách vở VN hiện nay người ta viết ra những thứ như thế đấy, và người khởi đầu cái tâm phân biệt văn minh, coi Tây là Bĩ, con Tàu là Thái có lẽ cũng là cụ Cao Xuân Huy. Phán xét tất nhiên tuỳ vào từng người, như bác Tieuvu thích Tây hay Đông hơn em không biết. Phần em, em tự ước lượng em nghiêng 7 về Tây 3 về Ta, vì tất nhiên Tây có nhiều cái dở, nhưng nó làm, chứ không nói xuông nhắm mắt buông tay mặc kệ sự đời.
x
Thêm một chi tiết có lẽ do bác Tieuvu chưa biết: cách đây 20 năm- Thomas Kuhn- giáo sư triết học và vật lý tại đại học Princeton có viết một cuốn sách có tiêu đề là: "Cấu trúc của cách mạng khoa học". Cuốn này chỉ dày chưa đến 300 trang, nhưng ngay sau đó đã gây một cơn địa chấn trong giới học thuật, và cũng được liệt vào danh sách những cuốn sách cách mạng nhất thế kỷ. Luận thuyết mà Kuhn đưa ra có thể tóm tắt bằng một câu thôi:
- "các cuộc cách mạng khoa học đều có tính nhảy vọt, chứ không phát triển từ từ từng bước liên tục một".

Kuhn chỉ ra rằng- các cuộc cách mạng khoa học làm thay đổi diện mạo của khoa học đều không từng bước như người ta vẫn tưởng- ví dụ nhờ ông A tạo ra thuốc súng, ông B ngồi nghĩ cách sử dụng, ông C nghĩ ra cách làm báng súng, ông D nghĩ ra cách làm nòng súng .v.v. mà bụp một cái, đột ngột có một tay nào đó làm được hầu như tất cả các công đoạn đó, và khẩu súng ra đời. Tất nhiên là ví dụ này em nói cho dễ hiểu- vì bác Tieuvu có nhắc đến súng ống, chứ chuyện làm ra súng đặc biệt có ý nghĩa đối với lịch sử châu Âu chứ không đặc biệt có ý nghĩa đối với khoa học, xét theo nghĩa khoa học tự nhiên.
Từ đó, người ta hay sử dụng cái khái niệm "thay đổi góc nhìn" (Paradigmawechsel/Paradigma change) - khái niệm mà Kuhn sử dụng để mô tả sự thay đổi thế giới thông qua các cuộc cách mạng khoa học gián đoạn, nhảy vọt ấy.

----------------------

Ngoài ra em xin nói thêm về sự liên quan giữa triết học phương Tây và các ngành khoa học khác. Ngày xưa- không có sự phân biệt giữa triết học với các môn khoa học khác. Ví dụ Platon vừa là nhà triết học và là nhà toán học, chính trị học, Aristoteles cũng vậy và còn đẻ ra khoa học tự nhiên- đặc biệt là sinh học và thực vật học. Khi đó, vì các bộ môn khoa học chưa tách ra khỏi triết học mà là những phần của nó. Nguyên nhân- cũng đơn giản: vì khi đó các bộ môn khoa học chưa có một cơ sở đủ vững để tách ra khỏi triết học- như gà con chưa đủ lông đủ cách để rời gà mẹ. Cho đến khi các bộ môn khoa học đặt được một nền tảng nhất định nào đó- thì nó bắt đầu quá trình "rời tổ" này. Cho đến ngày nay, các chú gà con đã mạnh tới mức thậm chí dạy lại được gà mẹ - giống như chúng ta ngày nay biết tiếng Anh, biết Internet chứ các cụ nhà ta thì chắc chả ai biết mấy.
Phó Thường Nhân
@X,
Cái quan niệm coi những gì phải nói về bản thể học (ontologie) mới được coi là triết học, thực ra là quan niệm cũ rồi. Mà đúng là nó chật hẹp thật. Xét theo khía cạnh ấy thì ở phương đông chỉ có đạo Lão có thể được coi là triết học.
Tôi thì hiểu triết học nhu thế này, mà hình như đây cũng là cách định nghĩa triết học hiện thời. Đó là sự nghiên cứu giải thích tất cả những gì liên quan tới tư duy, lập luận, lô gíc của con người.

Như vậy đạo Nho cũng có phần triết học. Nếu nói Khổng Tử không nói tới triết học là không đúng đâu. Nó có thuyết "mệnh trời" (Thiên hà ngôn tai, tứ thời bình yên). Sau này người ta phát triển thành Lý học, rồi thành Tam Tài (Trời đất người), rồi (Thiên hạ vạn vật đồng nhất thể). Cái "Nhân chi sơ tính bản thiện" chỉ là tư duy về đạo đức trong Nho giáo. Nhưng Nho giáo không phải chỉ có thế. Đấy chỉ là đặc trưng của nó. Ở phương Tây, trước đây người ta dựa vào đó mà nói nó không phải là triết học chỉ do nghiên cứu không đủ mà thôi.

x
Ơ bác Phó, em có bảo chỉ mỗi bản thể học là triết học đâu?
Với lại, em cũng viết rõ ràng là Mạnh tử, Tuân tử tìm cách xây dựng một điểm xuất phát cho Khổng học- và điểm xuất phát của họ là đặt nhân tính là thiện và ác- tức cũng là bản thể học. Từ điểm đó, các ông ấy hợp pháp hoá Nhân, lễ, nghĩa, trí, tín và từ đó, mọi thuyết khác của Khổng học. Thuyết Tam tài thiên địa nhân là siêu hình học và đến thời Tống- khi Trình Di, Chu Hy thêm thuyết Âm-Dương vào để cải tiến Khổng học, thì Khổng học mới có thêm nền móng chỗ dựa mới- là siêu hình học. Nhưng giữa bản thể học Thiện ác- và siêu hình học Tam tài có một liên ứng rất chặt chẽ với nhau- nguyên nhân là hai ngành đó thật ra là 2 mặt của một vấn đề.
Em cũng công nhận Khổng tử, Lão tử, Trang tử, Phật, thậm chí Khuất Nguyên, Đào Tiềm, Trình Di, Chu Hy cũng là các triết gia cả. Cái mà em không đồng ý với nhiều người- là việc họ coi triết học của các cụ này cao siêu tột đỉnh, hoặc không có mâu thuẫn gì, hoặc là sâu sắc hơn triết học phương Tây.

Nói chung bản thể học hay siêu hình học (đến thế kỷ 20 thì trộn lại thành 1 thông qua bản thể luận nền tảng của Heidegger- phần này phức tạp, em không chắc đã hiểu thật sự nên xin phép miễn trình bày) chính là điểm tựa cho tất cả các nhánh khác của triết học- kể cả xã hội, chính trị .v.v. Nhiều người còn nhầm rằng luật lý học (logic học) cũng là một điểm tựa cho tất cả các ngành triết học, nhưng điều này không chính xác. Là vì Logic học đúng ra không phải điểm tựa của một cái gì cả mà là điểm tựa của tất cả- vì nó là những sự thật hiển nhiên: đã là người thì ai cũng nhận ra ngay một suy luận logic tam đoạn luận như: "Tất cả mọi người đều phải chết, Socrates là người => Socrates cũng phải chết" là câu đúng, chứ không cần phải học mới biết được suy luận đó là đúng (chỉ cần học để biết nó là đúng nhanh hơn, đỡ mất thời gian ngồi nghĩ thôi). Đây cũng là tính tự nhiên (thế mạnh) của logic học và đồng thời là điểm yếu của chính nó.

Ngày xưa Aristoteles nhầm tưởng rằng logic của ông sẽ là thứ mạnh nhất trong các công cụ tư duy, nhưng sự thật đúng là logic học không mạnh như thế. Ví dụ chúng ta xét câu kết luận "Socrates cũng phải chết" và mệnh đề 1: "Tất cả mọi người đều phải chết" - thì người tinh ý sẽ nhận ra là trong mệnh đề 1 đã bao hàm ý của kết luận 3 luôn rồi- tức là kết luận 3 không đem ra một cái gì mới hay ho cả. Như Wittenstein về sau có nói: Logic là một cái, mà nói thực ra, là cái Không-gì-cả (để hiểu dễ hơn: vì nó là cái mà chả nói được bất cứ cái gì mới cả). Hay Russell có nói một câu châm biếm hơn khi nói về Hegel: "Hegel đi từ lập luận logic ban đầu sai, dựng cả một hệ thống triết học khổng lồ trên sự sai đó. Nhưng điều đó cho thấy là: cái gì càng sai với logic bao nhiêu thì càng cho nhiều kết quả màu mỡ bấy nhiêu".
Phó Thường Nhân
Thực ra so sánh hơn kém giữa triết học Đông Tây cho đến tận thế kỷ XIX là khập khiễng. Vì mục đích của triết học hai bên không giống nhau.
Triết học phương Tây bắt đầu từ Hi-La bao trùm cả nhận thức về tự nhiên và xã hội. Trong đó chủ yếu nó là khoa học tự nhiên. Chỉ từ Socrate trở đi (Socrate rồi Platon) thì triết học Hi -La mới thêm vào phần xã hội, hay thái độ ứng sử đạo đức mà ở phương Đông người ta gọi là tu thân. Các triết gia Hi Lap từ Democrite, Epicure, Zenon (Stoisisme)... đều giành một phần to lớn nói về các hiện tượng tự nhiên , tức là tiền thân của Vật lý. Rồi lô gíc , tức là tiền thân của toán học.
Cho đến thế kỷ XIX khi các môn khoa học tự nhiên tồn tại độc lập với triết học, thì phần còn lại của nó chỉ là lô gic, phương pháp tư duy, lối sống...

triết học phương Đông từ cổ xưa đã nhằm vào tu thân. Vì thế nó luôn được coi là đạo. Bản thân việc coi chữ đạo trong đạo Thiên chúa chẳng hạn với chữ đạo hiểu thông thường đã trật. So chữ đạo với triết học phương Tây càng không được. Còn sở dĩ tôi nói hiện nay có thể so sánh được vì triết học phương Tây đã mât đi cái phần khoa học tự nhiên, rồi nó lại bị ảnh hưởng của phương Đông, như việc thừa nhận phenomene (hiện tượng) làm cho hai phía đi lại gần nhau hơn.

Ở phương Đông, thì chỉ có đạo Lão là có phần giải thích thế giới tự nhiên, theo quan niệm Âm -Dương. Có việc sắp xếp sự vật theo Ngũ Hành. Vì thế không phải ngẫu nhiên mà tất cả những khoa học, có gì đó gắn với tự nhiên như y học, đều có cái gì đó của đạo Lão. Nhưng triết học phương đông thiếu hẳn một công cụ như toán học đối vớí các triết gia Hi lạp. Đây là phần yếu kém.
Ngược lại triết học phương Đông lại có nhiều điểm mạnh về quan hệ xã hội, tâm lý. Nhưng ở phương Tây họ bù lại bằng Thiên chúa giáo.

Không có chuyện TÂY hơn TA hay TA hơn TÂY. Đây là quan niệm của tôi. Ngày xưa các cụ tự hào là để bớt tủi thân, mặc cảm thân phận nô lệ. Cũng là để chống lại cái quan niệm "khai hoá văn minh" của thực dân, mà thực chất là đô hộ. Chứ còn bây giờ thì cứ bầy hết nó lên bàn, coi như công cụ lao động. Cần cái gì, mục đích nào thì công cụ ấy.
Cảm nhận của tôi về công cụ mục đích là thế này. Nếu là đạo đức tu thân thì lấy phần phương Đông. Nếu về truyền thống thì là phương Đông. Còn nếu nói về luật pháp,kinh tế, về lô gíc, về tư duy thì phải học triêt học phương Tây rồi. Tóm lại cái gì không có thì phải bổ xung, bằng so sánh, đối thoại, nhập khẩu .

langtubachkhoa
QUOTE(Phó Thường Nhân @ Oct 26 2005, 01:27 PM)
Cảm nhận của tôi về công cụ mục đích là thế này. Nếu là đạo đức tu thân thì lấy phần phương Đông. Nếu về truyền thống thì là phương Đông. Còn nếu nói về luật pháp,kinh tế,  về lô gíc, về tư duy thì phải học triêt học phương Tây rồi. Tóm lại cái gì không có thì phải bổ xung, bằng so sánh, đối thoại, nhập khẩu .
*


Thế lấy vợ hoặc kiếm người tình thì bên nào hả các bác? Phương Đông hay phương Tây? laugh1.gif
Phó Thường Nhân
Phương Đông
Càng Đông càng tốt.
leuleu.gif leuleu.gif
Pages: 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25
Quán nước đầu làng Ven > Sáng Tác - Thảo Luận - Phổ biến kiến thức > Văn Học & Ngôn Ngữ
Bạn đang xem phiên bản gọn nhẹ của diễn đ n dưới dạng text, để xem các b i viết với đầy đủ mầu sắc v hình ảnh hãy nhấn v o đây !
Invision Power Board © 2001-2022 Invision Power Services, Inc.